Quy đinh về lựa chọn tòa án giải quyết tranh chấp

Thưa luật sư, Tôi ở Hà Giang còn chồng tôi ở Nghệ An, hiện chúng tôi đang cư trú tại Hà Nội. Do mâu thuẫn không thể hòa giải, tôi đã làm đơn ly hôn với chồng. Vậy trong trường hợp này chúng tôi có được lựa chọn nơi khởi kiện thuận tình ly hôn hay không?

Chủ Thể Của Vi Phạm Pháp Luật Là Những Ai
lựa chọn tòa án giải quyết tranh chấp

1. Tranh tụng dân sự là gì?

Hiện nay pháp luật chưa có quan niệm rõ ràng về tranh chấp dân sự. Tranh chấp dân sự được hiểu là tranh chấp phát sinh giữa các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật dân sự về quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản được pháp luật bảo vệ.
Các loại tranh chấp dân sự phổ biến hiện nay là: tranh chấp tài sản, tranh chấp hợp đồng dân sự, tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, tranh chấp ly hôn…

Khi xảy ra tranh chấp dân sự, các bên đều mong muốn tìm ra phương án giải quyết tranh chấp, đảm bảo lợi ích tốt nhất cho mình và tiết kiệm thời gian, tiền bạc. Vì vậy, việc lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp là vô cùng quan trọng. Hiện nay, phương thức giải quyết tranh chấp dân sự: thương lượng, hòa giải, xét xử.

2. Khởi kiện dân sự

Khi các biện pháp thương lượng, hòa giải không mang lại kết quả thì các chủ thể mới lựa chọn biện pháp gửi đơn khiếu nại đến Tòa án để giải quyết.
Đó là phương thức có sự tham gia của cơ quan đại diện quyền lực nhà nước là Tòa án nhân dân. Vì vậy, quá trình giải quyết tranh chấp phải tuân theo các quy định chặt chẽ của pháp luật tố tụng. Đồng thời, bản án, quyết định của Toà án được bảo đảm thi hành bởi hệ thống cơ quan thi hành án của Nhà nước. Khi khởi kiện các bên phải xác định đối tượng tranh chấp là gì? Điều này giúp xác định cơ quan có thẩm quyền giải quyết vụ việc và tạo thuận lợi cho quá trình tố tụng.

3. Phân loại thẩm quyền của Tòa án

3.1. Thẩm quyền của Tòa án theo loại vụ việc

Thẩm quyền giải quyết tranh chấp theo loại vụ việc là tập hợp các vụ việc dân sự mà Tòa án được trao quyền thụ lý và giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự (TTDS). Thẩm quyền của Toà án đối với loại vụ án sẽ được phân biệt với các vụ án dân sự thuộc thẩm quyền của các cơ quan khác. Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 được xây dựng trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, do đó, nguyên tắc về quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể được ghi nhận tại Điều 4 BLTTDS năm 2015. Trong Đặc biệt, việc bổ sung khoản 2 của luật này: “Tòa án không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự vì lý do thiếu điều luật áp dụng”, có thể nói đây là một điểm thay đổi quan trọng của BLDS năm 2015 so với BLDS năm 2015. 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) nhằm bảo đảm thực hiện quyền con người, quyền công dân, quyền tiếp cận công lý của cá nhân.

3.2. Thẩm quyền của Tòa án theo cấp

Theo Luật Tổ chức Tòa án 2014 quy định về hệ thống tổ chức tòa án, Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền xét xử sơ cấp VADS. Vì vậy, việc xác định đúng thẩm quyền xét xử của Tòa án theo cấp chính là xác định đối với một vụ án VADS cụ thể thì Tòa án nhân dân cấp huyện hay Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền xét xử. Việc xác định thẩm quyền của Tòa án theo cấp được quy định tại Điều 35 và Điều 37 của Bộ luật dân sự 2015 căn cứ vào tính chất phức tạp của từng loại vụ án, điều kiện vật chất và trình độ chuyên môn thực tế của đội ngũ cán bộ tư pháp.

3.3. Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ và theo sự lựa chọn của các bên

Về nguyên tắc, việc phân chia thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ cần được thực hiện trên cơ sở bảo đảm việc Tòa án giải quyết vụ án dân sự nhanh chóng, chính xác, bảo vệ lợi ích của đất nước, quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, đồng thời bảo đảm Tòa án có thẩm quyền là Tòa án thuận lợi nhất cho sự tham gia tố tụng của đương sự, Tòa án có điều kiện giải quyết thuận lợi nhất. Về cơ bản, quy định về thẩm quyền theo lãnh thổ của Điều 39 và Điều 40 BLDS 2015 kế thừa quy định của BLTTDS trước đây. Tranh chấp hôn nhân và gia đình được điều chỉnh bởi Luật hôn nhân và gia đình 2014, Bộ luật dân sự 2015 và đều thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật hôn nhân và gia đình 2014, Bộ luật dân sự 2015. thẩm quyền xét xử của tòa án dân sự.
Ngoài quy định về xác định thẩm quyền xét xử như trên, để bảo đảm sự thuận lợi cho người khởi kiện tham gia tố tụng, tại điểm b khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định nguyên đơn, người nguyên đơn có thể lựa chọn toà án mà không cần có sự đồng ý của bị đơn, nguyên đơn. Quy định này hoàn toàn phù hợp với thực tiễn, tạo điều kiện thuận lợi, linh hoạt cho chủ thể khởi kiện thực hiện việc lựa chọn Tòa án có thẩm quyền giải quyết cho mình, trao cho họ sự chủ động trong việc lựa chọn Tòa án giải quyết tranh chấp trong một số trường hợp nhất định như: Nguyên đơn không biết nơi cư trú, làm việc, trụ sở của bị đơn; tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng;…

4. Quy định về lựa chọn thẩm quyền của Tòa án

Trong một số trường hợp việc xác định thẩm quyền theo lãnh thổ gặp khó khăn ví dụ trong vụ án có nhiều bị đơn mà nơi bị đơn cư trú, làm việc hoặc có trụ sở ở một nơi khác nhau, hoặc trong một vụ tranh chấp bất động sản, các bất động sản ở nhiều nơi khác nhau, V.V. hoặc nếu để Tòa án có thẩm quyển theo lãnh thổ giải quyết sẽ không thuận lợi cho nguyên đơn, người yêu cầu, trong một số trường hợp lợi ích của nguyên đơn, người yêu cầu phải được chú ý bảo vệ, ví dụ như nguyên đơn là người bị bị đơn gây thiệt hại, V.V.. Vì thế, Điều 40 Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành đã quy định trong một số trường hợp nguyên đơn, người yêu cầu có quyền lựa chọn Tòa án giải quyết vụ việc. Khi áp dụng Điều 40 Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành thì cần phải chú ý:

- Về nguyên tắc là phải áp dụng Điểu 35, 37 và Điểu 39 Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành để xác định thẩm quyển. Vì vậy, khi nguyên đơn chọn Tòa án để khởi kiện thì phầi đối chiếu với quy định của Điều 35, 37 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành để xác định việc nguyên đơn lựa chọn Tòa án giải quyết có được pháp luật cho phép hay không? Và có phù hợp, đáp ứng các điều kiện quy định tại Điều 40 Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành hay không? Nếu là trường hợp bắt buộc phải tuân theo quy định tại Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành thì không chấp nhận yêu cầu bầu Hội đồng xét xử của nguyên đơn và phải áp dụng Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành để xác định. cơ quan có thẩm quyền.

Ví dụ: Điểm a khoản 1 Điều 40 Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành quy định: “Nếu không biết chỗ ở, nơi làm việc, trụ sở đăng ký của bị đơn thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi cư trú của bị đơn nơi làm việc, nơi cư trú cuối cùng hoặc nơi bị đơn xác lập tài sản”. Như vậy, chỉ trong trường hợp không xác định được nơi cư trú, làm việc, trụ sở đăng ký của bị đơn thì nguyên đơn mới có quyền khởi kiện tại Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở đăng ký cuối cùng hoặc nơi phát hiện bị đơn có tài sản để giải quyết. .
- Trong trường hợp pháp luật có quy định việc yêu cầu lựa chọn Toà án giải quyết vụ việc dân sự không yêu cầu phải có điều kiện thì người khởi kiện, người khởi kiện có thể nộp đơn tại Toà án nơi mình cư trú, làm việc, trụ sở hoặc nơi của mình. nơi xảy ra thiệt hại. đã được giải quyết và Tòa án chấp nhận yêu cầu này. Ví dụ: Điểm d khoản 1 Điều 40 Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành quy định: “Trong trường hợp có tranh chấp về việc sửa chữa thiệt hại ngoài hợp đồng thì nguyên đơn có quyền khởi kiện tại Toà án nơi mình cư trú, làm việc. trụ sở chính hoặc nơi xảy ra hư hỏng sẽ được sửa chữa”. Như vậy, trong trường hợp này, việc yêu cầu bầu Hội đồng xét xử giải quyết tranh chấp dân sự không đòi hỏi điều kiện gì mà đương sự có thể yêu cầu Hội đồng xét xử nơi mình cư trú, làm việc, có trụ sở. hoặc nơi xảy ra thiệt hại giải quyết và Toà án chấp nhận yêu cầu này.

- Trong trường hợp nguyên đơn và nguyên đơn có quyền lựa chọn nhiều Tòa án có thẩm quyền để giải quyết vụ án dân sự, ví dụ tại điểm h và điểm i khoản 1 Điều 36 Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành: “h) Nếu bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở đăng ký ở nhiều nơi khác nhau thì nguyên đơn có thể nộp đơn tại Tòa án nơi một trong các bị đơn cư trú, làm việc, đặt trụ sở; i) Trường hợp tranh chấp bất động sản mà bất động sản nằm ở nhiều địa phương khác nhau thì nguyên đơn có quyền khởi kiện tại Tòa án nơi có bất động sản. “Với quy định này, khi nhận được Đơn khởi kiện, người khởi kiện yêu cầu Tòa án giải thích cho đương sự hiểu rằng chỉ có một tòa án trong số các tòa án do pháp luật quy định có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự, do đương sự lựa chọn. Tòa án nơi đương sự đã lựa chọn có nên yêu cầu người khởi kiện, nguyên đơn cam kết về việc yêu cầu không khởi tố hoặc yêu cầu không yêu cầu khởi tố trước các Tòa án khác hay không?
Trong trường hợp nguyên đơn, nguyên đơn đã khởi kiện hoặc gửi đơn yêu cầu đến nhiều Tòa án khác nhau theo quy định của pháp luật thì Tòa án đã thụ lý vụ án đầu tiên từng thời điểm có thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự. Các cơ quan tài phán khác nếu chưa thụ lý thì căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 192 của Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành để chuyển yêu cầu, đề nghị đến cơ quan công lý.

Nếu vụ án đã được giải quyết thì căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 192 và khoản 1 và khoản 2 Điều 218 của Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành, ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, xóa tên của đương sự vụ việc dân sự này vào sổ thụ lý vụ án dân sự và trả lại yêu cầu, yêu cầu hợp pháp cùng tài liệu, chứng cứ kèm theo cho đương sự nếu họ có yêu cầu.
Nếu đương sự đã nộp tiền tạm ứng án phí thì căn cứ vào Điều 198 khoản 3 Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành, Tòa án trả lại tiền tạm ứng án phí cho người đã nộp.

5. Nguyên đơn lựa chọn Tòa án giải quyết tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình

Nguyên đơn có quyền lựa chọn Tòa án giải quyết tranh chấp trong các trường hợp sau đây:

a) Nếu không biết nơi cư trú, làm việc, trụ sở đăng ký của bị đơn thì nguyên đơn có thể nộp đơn đến Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, trụ sở cuối cùng hoặc nơi bị đơn có tài sản để giải quyết giao dịch.
Với quy định trên thì nguyên đơn chỉ được lựa chọn tòa án nơi cư trú của bị đơn; làm việc, nơi cơ sở thường trú hoặc nơi bị đơn có tài sản để xác lập khi không biết nơi cư trú, làm việc, trụ sở đăng ký của bị đơn mà biết được một trong các địa chỉ nêu trên thì có yêu cầu phải áp dụng điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành để xác định thẩm quyền của Tòa án.
Về cơ bản, nguyên đơn khởi kiện phải xác định được nơi cư trú, làm việc của bị đơn thì tòa án mới có cơ sở để thỏa thuận và giải quyết. Nếu nguyên đơn không xác định được địa chỉ của bị đơn mà vẫn khởi kiện, Toà án vẫn thụ lý giải quyết thì không bảo đảm được quyền và nghĩa vụ chứng minh của bị đơn nên Toà án không thể giải quyết vụ án. Tuy nhiên, nếu nguyên đơn chứng minh được bị đơn chỉ cố ý cất giấu đĩa hoặc trong trường hợp bị đơn thay đổi địa chỉ thường xuyên, không ở một địa điểm nhất định thì nguyên đơn được áp dụng điểm a khoản i Điều 40 Bộ luật Hình sự. Pháp luật tố tụng dân sự có hiệu lực lựa chọn Tòa án có thẩm quyền là Tòa án nơi cư trú, làm việc, trụ sở cuối cùng của bị đơn hoặc nơi bị đơn có tài sản để giải quyết.

b) Nếu tranh chấp phát sinh từ hoạt động của chi nhánh của tổ chức thì nguyên đơn có thể khởi kiện ra Tòa án nơi tổ chức có trụ sở chính hoặc nơi tổ chức có chi nhánh để giải quyết.
Ví dụ: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam có trụ sở chính tại huyện H, thành phố Hà Nội và có chi nhánh tại huyện K, tỉnh Lào Cai; Nếu tranh chấp phát sinh từ Chi nhánh Lào Cai thì nguyên đơn có quyền lựa chọn khởi kiện ra Tòa án huyện K Lào Cai hoặc Tòa án huyện H Hà Nội.
c) Trường hợp bị đơn không có nơi cư trú, làm việc, trụ sở đăng ký tại Việt Nam hoặc vụ án có tranh chấp về cấp dưỡng thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi mình sinh sống, làm việc giải quyết.
d) Trong tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi mình cư trú, làm việc, có trụ sở hoặc nơi xảy ra sự kiện gây thiệt hại giải quyết. đ) Nếu phát sinh tranh chấp từ quan hệ hợp đồng thì nguyên đơn có quyền yêu cầu Tòa án nơi thực hiện hợp đồng giải quyết.
Ví dụ, nguyên đơn và bị đơn đều ở huyện M nhưng hai bên đã ký kết hợp đồng và hợp đồng này được thực hiện tại huyện P thì nguyên đơn có quyền lựa chọn Tòa án nhân dân huyện P để giải quyết các tranh chấp liên quan đến Hợp đồng này.
e) Nếu các bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở ở nhiều nơi khác nhau thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi một trong các bị đơn cư trú, làm việc giải quyết giao dịch.

Ví dụ: Trong một vụ án có năm bị đơn cư trú ở năm huyện khác nhau thì nguyên đơn có quyền nộp đơn đến một trong năm Tòa án cấp huyện nơi bị đơn cư trú để giải quyết vụ án.
g) Nếu có tranh chấp về tài sản mà các tài sản đó nằm ở nhiều địa phương khác nhau thì nguyên đơn có quyền yêu cầu Tòa án nơi có một trong các tài sản đó giải quyết. Ví dụ: A yêu cầu chia thừa kế ba căn nhà ở ba quận khác nhau là quận M, quận N và quận Q. Người A có thể lựa chọn một trong ba quận nơi có căn nhà được thừa kế để khởi kiện. thừa kế bất động sản.

6. Những trường hợp người khởi kiện có quyền lựa chọn Tòa án giải quyết tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình

Nguyên đơn có quyền lựa chọn hội đồng xét xử giải quyết trong các trường hợp sau đây:

a) Đối với vụ việc dân sự quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều 27 của Bộ luật tố tụng dân sự đang có hiệu lực thi hành thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi mình cư trú, làm việc, có trụ sở:

Nếu đối với việc dân sự nêu trên chỉ có nguyên đơn và người bị yêu cầu thì nguyên đơn có quyền lựa chọn Tòa án nơi mình cư trú, làm việc, có trụ sở, nhưng đối với việc dân sự thì có người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia. tố tụng thì nguyên đơn có quyền nộp đơn đến Toà án nơi mình cư trú, làm việc, có trụ sở để giải quyết hoặc phải lựa chọn Toà án nơi người có quyền lợi, nghĩa vụ đó có trụ sở. và giải quyết? Điều này có thể do pháp luật không quy định Tòa án nơi người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cư trú, làm việc, có trụ sở nên người khởi kiện luôn có quyền lựa chọn nơi mình cư trú, làm việc, có trụ sở. .

b) Đối với yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành thì đương sự có quyền yêu cầu Tòa án nơi các bên đăng ký kết hôn trái pháp luật giải quyết việc kết hôn trái pháp luật.

c) Đối với yêu cầu hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên, quyền thăm nom con sau khi ly hôn thì đương sự có thể yêu cầu Tòa án nơi cư trú của con giải quyết.
Như vậy, trong trường hợp của bạn, nếu bạn sinh sống và làm việc tại Hà Nội thì bạn có thể lựa chọn Tòa án cấp huyện nơi hai bạn tạm trú để tiến hành thủ tục ly hôn theo quy định của pháp luật.

Nội dung bài viết:

    Hãy để lại thông tin để được tư vấn

    comment-blank-solid Bình luận

    084.696.7979 19003330 Báo giá Chat Zalo