Lỗi vô ý là gì? Luật lỗi vô ý? Phân biệt giữa lỗi vô ý và lỗi cố ý? Có phải bồi thường thiệt hại ngoài ý muốn không? Thông số kỹ thuật như thế nào? Nếu bạn cũng đang đi tìm câu trả lời cho câu hỏi trên, hãy theo dõi bài viết dưới đây để được giải đáp chi tiết nhất!

1. Thế nào là lỗi vô ý? Luật lỗi vô ý
Theo quy định tại Điều 364 BLDS 2015 thì lỗi vô ý được hiểu như sau: “Lỗi vô ý là trường hợp một người không thấy trước hành vi của mình có khả năng gây ra thiệt hại mặc dù phải biết hoặc có thể biết được. biết trước tác hại sẽ xảy ra hoặc thấy trước hành vi của mình có khả năng gây tác hại nhưng cho rằng tác hại đó sẽ không xảy ra hoặc có thể tránh được. Có thể hiểu lỗi vô ý có thể được coi là lỗi do người thực hiện hành vi không biết hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại đến tài sản của người khác hoặc do kiêu ngạo mà biết rõ hành vi của mình có thể gây thiệt hại. gây hại, nhưng không phải để ngăn chặn hành động và vẫn làm điều đó. Có thể thấy, lỗi vô ý thường ít nghiêm trọng hơn lỗi cố ý.
2. Phân biệt lỗi vô ý với lỗi cố ý
2.1 Lỗi vô ý
Lỗi vô ý là lỗi của một người mà chủ thể đó không lựa chọn thực hiện tội phạm nhưng thực hiện hành vi này gây hậu quả nguy hiểm cho xã hội.
2.2 Lỗi cố ý
Lỗi cố ý là lỗi do chủ thể lựa chọn hành vi phạm tội và đã thực hiện hành vi này.
3. Quy định của BLHS
(i) Lỗi cố ý theo nghĩa của Điều 10 BLHS 2015:
Cố ý phạm tội là phạm tội trong các trường hợp sau đây:
- Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội; thấy trước hậu quả của hành vi này và mong muốn hậu quả xảy ra;
- Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội; lường trước hậu quả có thể xảy ra của hành vi đó; Dù không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để hậu quả xảy ra.
(ii) Lỗi cố ý theo quy định tại Mục 11 BLHS 2015
Vô ý phạm tội là phạm tội trong các trường hợp sau đây:
1. Người phạm tội thấy trước hành vi của mình có thể dẫn đến hậu quả xấu cho xã hội nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể tránh được.
- Người phạm tội không thấy trước hành vi của mình có thể gây hậu quả nguy hại cho xã hội; mặc dù nó nên được và có thể được mong đợi.
4 Vô ý gây thiệt hại có phải bồi thường không? Làm thế nào để sửa chữa thiệt hại không chủ ý?
Điều 584 BLDS 2015 quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vô ý xảy ra như sau:
(i) Người nào có hành vi gây tổn hại đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vô ý.
(ii) Người gây thiệt hại không phải bồi thường thiệt hại nếu thiệt hại xảy ra do tai nạn hoặc lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác. .
(iii) Nếu tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải bồi thường thiệt hại do lỗi vô ý, trừ trường hợp thiệt hại xảy ra do sự kiện bất khả kháng hoặc do lỗi của bên bị thiệt hại. Vì vậy, nhìn chung khi áp dụng trách nhiệm dân sự không nhất thiết phải xác định lỗi của người phạm tội là vô ý hay cố ý, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận và điều luật đó không có quy định khác. Vì vậy, trong trường hợp người gây thiệt hại biết rõ hành vi của mình sẽ gây thiệt hại cho người khác nhưng vẫn thực hiện mặc dù không muốn thiệt hại đó xảy ra nhưng vì có thái độ bỏ mặc cho thiệt hại xảy ra.. để thiệt hại xảy ra, người đó phải chịu trách nhiệm dân sự về thiệt hại do vô ý. Người gây thiệt hại tuy có lỗi nhưng hành vi của người đó dù cố ý hay vô ý đã gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp khác của người khác. Pháp luật yêu cầu bồi thường thiệt hại do lỗi vô ý của người gây thiệt hại. Việc người gây thiệt hại có cố ý hay không cố ý không phải mà số tiền bồi thường tăng lên hay không phụ thuộc vào sự thỏa thuận của các bên hoặc theo quy định của pháp luật để được bồi thường. Từ những điều trên, chúng ta có thể kết luận rằng không chỉ cố ý gây thiệt hại mà bất kỳ người nào có hành vi gây thiệt hại cho sức khỏe, nhân phẩm, danh dự, uy tín, tài sản, nếu do lỗi vô ý thì còn phải bồi thường thiệt hại cho thiệt hại ngoài ý muốn đó theo quy định của pháp luật. Đây là điều không thể tránh khỏi và phải làm vì dù cố ý hay vô tình thì cũng đã gây ra tổn hại cho nạn nhân.
Nội dung bài viết:
Bình luận