Lãi suất quá hạn là gì? Quy định về cách tính lãi suất quá hạn?

Theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015, có 4 loại lãi suất đối với khoản vay của bên vay, đó là: Lãi suất ghi nợ (có kỳ hạn), lãi suất truy thu nợ gốc, lãi suất quá hạn. và lãi suất. các khoản chậm nộp khác (lãi chậm nộp). Tìm hiểu thêm về lãi suất quá hạn trong bài viết dưới đây:

1. Lãi suất chậm trả là gì?

Hiện nay, chưa có quy định nào giải thích chính xác “lãi chậm trả” là gì. Tuy nhiên, căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 5 Điều 446 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì có thể hiểu lãi chậm trả là khoản tiền lãi phát sinh đối với số tiền gốc chậm trả mà chưa được trả tương ứng với thời gian chậm thanh toán (thanh toán chậm). hạn), mà người đi vay phải trả cho người cho vay cho đến thời điểm trả nợ.
Lãi quá hạn là một tỷ lệ phần trăm nhất định phát sinh từ giao dịch vay giữa các bên khi người đi vay không trả được nợ cho người cho vay. Cụ thể, tiền lãi sẽ được tính theo tỷ lệ phần trăm nhân với số tiền gốc còn nợ trong thời gian truy thu.

2. Quy định pháp luật về lãi suất quá hạn theo quy định pháp luật:


Pháp luật hiện hành có nhiều quy định rất khác nhau liên quan đến lãi suất quá hạn, ví dụ như sau:

Năm 2004, Luật Điện lực quy định: bên chậm trả tiền mua điện phải trả cả tiền lãi chậm trả theo lãi suất do các bên thỏa thuận nhưng không vượt quá mức lãi suất cho vay cao nhất của ngân hàng mà bên bán điện có tài khoản ghi trong hợp đồng; (Khoản 2, 4 Điều 23 Luật Điện lực năm 2004 sửa đổi, bổ sung năm 2012)


Năm 2005, Luật Thương mại quy định: trường hợp bên vi phạm hợp đồng chậm thanh toán thì phải trả tiền lãi “theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thòi điểm thanh toán tương ứng vối thòi gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác"; (Điều 306 Luật Thương mại năm 2005)

Năm 2006, Luật Quản lý thuế quy định: “người nộp thuế phải nộp tiền chậm nộp theo mức 0,05%/ngày”1, tức là tương đương 18,25%/năm. Từ tháng 7/2020 trở đi, mức chậm nộp giảm xuống còn 0,03%/ngày tức là gần 11%/năm (khoản 4 Điều 92 Luật Quản lý thuế năm 2006 và Điểm a khoản 2 Điều 59 Luật quản lý thuế năm 2019);


Năm 2012, Luật Xử lý vi phạm hành chính quy định: nếu quá thời hạn nộp tiền phạt thì cứ mỗi ngày chậm nộp phạt “phải nộp thêm 0,05% trên tổng số tiền phạt chưa nộp" (tức là khoảng 18,25%/năm). (khoản 1 Điều 78 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012)

Pháp luật dân sự và ngân hàng quy định về việc trả lãi trong trường hợp quá hạn như sau

2.1. Pháp luật dân sự:

Thứ nhất, Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định bên chậm trả tiền phải trả lãi theo thỏa thuận nhưng không được vượt quá 20%/năm, nếu không có thỏa thuận thì trả không quá 10%/năm. (Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015)

Tuy nhiên, các tổ chức tín dụng thì lại không áp dụng quy định về giới hạn lãi suất của Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng như năm 2005 trước đó (Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP), nên lãi suất nợ quá hạn có thể vượt 20%/năm;


Thứ hai, nếu bên vay chậm trả nợ gốc, thì ngoài việc phải trả nợ gốc, còn phải “trả lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả bằng 150% lãi suất vay theo hợp đồng tương ứng vói thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”. Trường hợp khoản vay được gia hạn trả nợ thì không áp dụng lãi suất nợ quá hạn đối với dư nợ gốc được gia hạn (khoản 5 Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015). Quy định này có một số điểm bất hợp lý như sau:

Mức lãi suất quá hạn 150% quá cao đối với trường hợp đã phải vay với lãi suất cao, nhất là khi gặp khó khăn trong việc trả nợ;

Gây ra sự bất công bằng lớn nếu lãi suất cho vay có sự khác nhau nhiều. Ví dụ, nếu cho vay với mức lãi suất 4%/năm, thì lãi quá hạn không được quá 6%, trong khi nếu cho vay với mức lãi suất 60%, thì lãi suất quá hạn được phép lên đến 90%. Như vậy, quy định lãi suất quá hạn “trả theo lãi suất cơ bản” trước đó công bằng hơn;

Thứ ba, quy định chốt cứng lãi suất nợ quá hạn “bằng 150% lãi suất vay”. Do đó nếu văn bản dưới luật quy định khác về mức lãi suất chậm trả thì lại trái luật, chẳng hạn như một sô quy định sau đây:

Lãi suất quá hạn “không vượt quá 150% lãi suất cho vay trong hạn”

Mức lãi suất đối với số tiền trả thay trong thỏa thuận cấp bảo lãnh không vượt quá 150% lãi suất cho vay thông thường;

Mức lãi suất đối với khoản tiền chiết khấu quá hạn không vượt quá 150% lãi suất chiết khấu trong hạn

Lãi suất nợ quá hạn do Ngân hàng Phát triển Việt Nam xem xét, quyết định, tôì đa bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn

Lãi suất nợ quá hạn cho vay của Ngân hàng chính sách xã hội được tính bằng 130% lãi suất khi cho vay.

2.2. Ngân hàng phải:

Về lãi suất cho vay ngoại tệ của ngân hàng, tuy không có quy định cụ thể nhưng luôn được hiểu là được phép thỏa thuận lãi suất trả chậm bằng 150% lãi suất hiện hành;

Thứ tư, ngoài quy định về việc quá hạn, chậm trả gốc nêu trên, còn có quy định về lãi suất chậm trả với mức lãi suất là 10%/năm hay còn gọi là thu nhập chính để tính lãi. tiếp tục hoặc lợi nhuận từ mẹ sang con). Trước đây, do chưa có quy định rõ ràng nên có nhiều quan điểm khác nhau và chỉ có một số trường hợp được Tòa án chấp nhận cách tính khoản lãi này.
Đối với việc hoãn thi hành án, kể từ tháng 1/2017 (ngày Bộ luật Dân sự 2015 có hiệu lực), người chậm trả nợ theo bản án phải trả tiền lãi do các bên thỏa thuận, nhưng không quá 20 năm. . %/năm. Nếu các bên không xác định rõ ràng lãi suất và không thỏa thuận được thì lãi suất chậm trả được tính là 10%/năm.
Riêng đối với hợp đồng tín dụng, nếu khách hàng không trả nợ đúng hạn thì phải trả lãi vay theo mức lãi suất đã thỏa thuận phù hợp với quy định của pháp luật về các tổ chức tín dụng và mức lãi suất áp dụng cho hợp đồng tín dụng. . Trong trường hợp chậm thi hành nghĩa vụ trả nợ mà các bên có thỏa thuận về việc trả lãi thì người phải thi hành án vẫn chịu lãi cho đến ngày thi hành án theo mức lãi suất do các bên thỏa thuận trong hợp đồng. phù hợp với pháp luật. theo yêu cầu của pháp luật (nghĩa là không giới hạn ở mức 20%/năm). (theo Điều 8 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP)


Việc tư vấn cho các tổ chức cho vay như trên là không hợp lý. Vì về nguyên tắc, lãi suất ghi nợ của TCTD chỉ được thấp hơn chứ không thể cao hơn lãi suất vay bên ngoài. Đặc biệt là khi có bản án (hoặc quyết định) có hiệu lực pháp luật của Tòa án chấm dứt hoàn toàn mọi thỏa thuận trước đó của các bên. Tất cả các câu hỏi, bao gồm cả lãi suất mặc định, chỉ có thể được đưa ra sau khi phán quyết đã được đưa ra (người có thể chấp nhận thỏa thuận của các bên). Nếu có sự chậm trễ trong việc thực hiện nghĩa vụ theo bản án thì trong mọi trường hợp phải áp dụng quy định chung liên quan đến việc chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền.

3. Cách tính lãi chậm trả khi vay tại tổ chức tín dụng?

Xin chào Công ty Luật ACC. Tôi tên là Nguyễn Văn A (Phú Thọ). Tôi có vay vốn ngân hàng có thỏa thuận lãi suất vay là 12%/năm, tôi có trách nhiệm trả lãi hàng tháng. Bây giờ là lúc phải trả nợ, nhưng tôi chỉ trả được một nửa. Tôi đã đến gặp bên vay và giải thích với họ, họ thấy hoàn cảnh của tôi khó khăn nên không yêu cầu tôi trả lãi chậm trả mà thực hiện việc trả lãi chậm trả theo quy định của pháp luật ( điều khoản này không được quy định trong hợp đồng ).
Vậy luật sư cho tôi hỏi cách tính lãi chậm nộp như thế nào?
Chờ ý kiến ​​của luật sư. CẢM ƠN!


Trả lời:

Quy định về lãi suất không trả được khi vay tại tổ chức tín dụng được ghi nhận tại điểm c khoản 4 Điều 13 Thông tư 39/2016/TT-NHNN như sau:

c) Trường hợp Khoản vay bị chuyển sang nợ quá hạn, Khách hàng phải trả lãi trên số dư nợ gốc tương ứng với thời gian chậm trả, lãi suất áp dụng không vượt quá 150% lãi suất cho vay trong thời hạn đến hạn. ngày. thời gian chuyển giao. Như vậy, tiền lãi chậm nộp được tính theo công thức sau:
LQH = NG x (LS x 1,5) x TỶ ĐỒNG

Trong đó:

- LQH: Lãi nợ gốc chưa trả đến hạn;

- NG: nợ gốc đến hạn và chưa trả;

- LS: Lãi suất vay theo hợp đồng hàng năm;


- T: Thời gian trễ (năm).
Do đó: Trong trường hợp bạn cung cấp cho chúng tôi, bạn có nghĩa vụ phải trả lãi trên số dư nợ gốc cho bên vay tương ứng với số dư nợ gốc (theo thông tin bạn cung cấp là một nửa).
Ví dụ: Bạn vay 200 triệu với lãi suất 10%/năm, thời hạn vay là 1 năm (12 tháng). Sau 1 năm bạn mới trả được 100 triệu và còn nợ 100 triệu, sau 6 tháng bạn trả đủ bạn sẽ phải trả lãi chậm trả như sau:

Lãi phải trả = 100 triệu x 15% x 1/2 = 7,5 triệu.

4. Xử lý nợ ngân hàng chậm trả khi đến hạn như thế nào?

Thưa luật sư, Tôi là Nguyễn Cường, hiện tôi đang có một khoản vay của ngân hàng, do điều kiện kinh tế khó khăn nên đến hạn tôi không trả được. . Tôi có thể hỏi những gì sai?
Trả lời:

Theo quy định tại khoản 4 Điều 13 Thông tư 39/2016/TT-NHNN, khi khách hàng không trả gốc và/hoặc lãi tiền vay khi đến hạn thì khách hàng phải trả lãi tiền vay như sau:

Lãi trên gốc theo lãi suất tiền vay thỏa thuận tương ứng với thời hạn vay nhưng chưa trả;

Trường hợp khách hàng không trả lãi đúng thời hạn quy định tại điểm a khoản này thì phải trả lãi chậm trả theo mức lãi suất do tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận nhưng không vượt quá 10%/năm trên số dư nợ. tiền lãi chậm nộp tương ứng với thời gian chậm nộp;

Trong trường hợp chuyển khoản mà chưa trả thì khách hàng phải trả lãi trên số dư nợ gốc chưa trả tương ứng với thời gian chậm trả.
Như thông tin bạn cung cấp đã đến hạn nhưng bạn chưa trả thì tùy trường hợp bạn có thể phải trả lãi cho khoản vay như hình trên. Để biết thêm thông tin về lãi suất, bạn có thể liên hệ trực tiếp với ngân hàng cho vay để được hướng dẫn chi tiết.

Nội dung bài viết:

    Hãy để lại thông tin để được tư vấn

    comment-blank-solid Bình luận

    084.696.7979 19003330 Báo giá Chat Zalo