Chủ nợ trong quan hệ ký quỹ có quyền yêu cầu tổ chức tín dụng đã ký quỹ phải thanh toán đầy đủ, đúng hạn các nghĩa vụ của mình theo khoản ký quỹ; và phải thực hiện đúng thủ tục theo yêu cầu của tổ chức tín dụng nơi gửi tiền để thực hiện các quyền của mình.
Ký quỹ là gì ? Cho ví dụ
1. Khái niệm ký quỹ là gì?
Ký quỹ được hiểu là loại tiền gửi không kỳ hạn hoặc có kỳ hạn của doanh nghiệp, tổ chức với ngân hàng cung ứng dịch vụ ký quỹ ký quỹ theo quy định của pháp luật. Khoản tiền ký quỹ này là sự bảo đảm tài chính của công ty, doanh nghiệp với tổ chức ngân hàng và các bên có liên quan. Theo luật pháp Việt Nam, tiền đặt cọc có thể là kim loại quý hoặc số tiền, giấy tờ quan trọng hoặc đá quý được đặt trong một tài khoản được bảo đảm và phong tỏa tại ngân hàng để các công ty ứng trước các khoản đầu tư hoặc dự án kinh doanh. Các loại tài sản này được kiểm soát và có thể thu hồi kịp thời.
Trong trường hợp các công ty hoạt động không đúng hoặc không thực hiện đúng thì các công ty này phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại và chịu trách nhiệm trước pháp luật. Sự ra đời của biểu mẫu này là vô cùng quan trọng giúp các công ty hay doanh nghiệp chứng minh được năng lực tài chính của mình, đặc biệt là đối với các tổ chức như công ty bảo hiểm hay tư vấn du học hay các loại hình tổ chức kinh doanh khác. Nói một cách đơn giản, ký quỹ hay ký quỹ là một hình thức tiền gửi ngân hàng có kỳ hạn hoặc không kỳ hạn của một doanh nghiệp hoặc tổ chức với một ngân hàng cung cấp dịch vụ lưu ký. Ký quỹ hay ký quỹ được coi là một hình thức bảo đảm tài chính của một tổ chức, doanh nghiệp đối với ngân hàng.
Nói cách khác, để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đầy đủ, đúng hạn, bên mắc nợ phải gửi một khoản tiền, kim khí quý, đá quý, giấy tờ có giá vào tài khoản phong tỏa tại ngân hàng.
2. Tính năng ký quỹ
– Vật: tài sản có giá trị thanh toán để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ là tiền, kim khí, đá quý hoặc giấy tờ có giá trị bằng tiền. Khoản tín dụng này phải có sẵn và được phong tỏa tại một tổ chức tín dụng. – Chủ thể: Các chủ thể trong quan hệ ký quỹ chủ yếu bao gồm tổ chức tín dụng bên ký kết và bên nhận ký quỹ, ngoài ra còn có chủ nợ. Mặc dù luật dân sự quy định bên ký kết là tổ chức tín dụng, nhưng Luật Các tổ chức tín dụng 2010 (sửa đổi năm 2017) vẫn cho phép các tổ chức không phải là tổ chức tín dụng được nhận tiền gửi. Cụ thể, trên thực tế, công ty chứng khoán trong hoạt động của mình cũng có thể nhận ký quỹ mặc dù không phải là tổ chức tín dụng. Trong một số trường hợp chủ nợ đồng thời là bên nhận như trong giao dịch dân sự mà chủ nợ là ngân hàng thì ngân hàng có thể vừa là bên nhận vừa là bên cho vay.
– Mục đích: Mục đích là bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của chủ nợ bằng tài khoản ký quỹ. Bên thực hiện ký quỹ bảo đảm vào tài khoản ký quỹ tại một tổ chức tín dụng. Trong trường hợp các bên ký kết không thực hiện hoặc thực hiện không tốt nghĩa vụ theo hợp đồng thì tổ chức tín dụng nhận ký quỹ trả lại tài sản ký quỹ cho bên cho vay sau khi đã trừ các chi phí dịch vụ.
3. Hậu quả pháp lý của quan hệ ký quỹ
Trường hợp bên ký kết không thực hiện hoặc thực hiện không tốt trong thời hạn thực hiện nghĩa vụ thì tổ chức tín dụng nơi ký kết sử dụng tài khoản này để thanh toán cho bên được ký kết. Nếu bên có quyền bị thiệt hại do bên kia không thực hiện nghĩa vụ gây ra thì tổ chức tín dụng dùng tài khoản đó để bồi thường thiệt hại. Ngoài ra, tổ chức tín dụng có quyền thu một khoản chi phí dịch vụ từ tài khoản đó trước khi thực hiện việc thanh toán và bồi thường. Quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ ký quỹ
Tổ chức tín dụng nơi ký quỹ có quyền hưởng phí dịch vụ từ hoạt động ký quỹ và có thể yêu cầu bên có quyền thực hiện đúng thỏa thuận để được thanh toán nghĩa vụ từ tiền ký; Tổ chức tín dụng nơi ký có nghĩa vụ thanh toán nghĩa vụ theo yêu cầu của bên có quyền trong phạm vi tiền ký quỹ và hoàn trả tiền còn lại cho bên ký sau khi thanh toán nghĩa vụ theo yêu cầu của bên có quyền và khi chấm dứt ký quỹ;
Bên ký quỹ có quyền thỏa thuận với tổ chức tín dụng nơi ký quỹ về điều kiện thanh toán theo đúng cam kết với bên có quyền; có quyền yêu cầu tổ chức tín dụng hoàn trả tiền ký quỹ theo quy định; có quyền được trả lãi trong trường hợp có thỏa thuận với tổ chức tín dụng; rút bớt, bổ sung tiền ký quỹ hoặc đưa tiền ký quỹ tham gia giao dịch dân sự khác trong trường hợp bên có quyền đồng ý. Bên ký có nghĩa vụ nộp đủ tiền tại tổ chức tín dụng nơi ký quỹ;
Bên có quyền trong quan hệ ký quỹ có quyền yêu cầu tổ chức tín dụng nơi ký quỹ thanh toán nghĩa vụ đầy đủ, đúng hạn trong phạm vi tiền ký quỹ; và có nghĩa vụ thực hiện đúng thủ tục theo yêu cầu của tổ chức tín dụng nơi ký quỹ trong việc thực hiện quyền của mình;
4. Quy định chung về ký quỹ
Luật quy định, ký quỹ là việc bên có nghĩa vụ gửi một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá vào tài khoản phong tỏa tại một tổ chức tín dụng để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ. Trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì bên có quyền được tổ chức tín dụng nơi ký quỹ thanh toán, bồi thường thiệt hại do bên có nghĩa vụ gây ra, sau khi trừ chi phí dịch vụ. Nghị định số 21/2021/NĐ-CP quy định về việc gửi, thanh toán tiền được dùng để ký quỹ như sau:
Về khoản tiền được dùng để ký quỹ (sau đây gọi là tiền ký quỹ) được gửi vào tài khoản phong tỏa tại tổ chức tín dụng theo thỏa thuận hoặc do bên có quyền chỉ định để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ;
Việc tiền ký quỹ và việc ký quỹ một lần hoặc nhiều lần do các bên thỏa thuận hoặc pháp luật quy định;
Nghĩa vụ được bảo đảm bị vi phạm thì tiền ký quỹ được dùng để thanh toán nghĩa vụ, bồi thường thiệt hại sau khi trừ phí dịch vụ (sau đây gọi là thanh toán nghĩa vụ). Theo các quy định trên thì các tài sản không được sử dụng để ký quỹ bao gồm: động sản, ngoại trừ kim khí quý hoặc đá quý, bất động sản và quyền tài sản. Đồng thời, nếu theo đúng quy định trên thì luôn có 3 bên tham gia và giao dịch ký quỹ, đó là bên có nghĩa vụ (bên ký quỹ), bên có quyền (bên nhận ký quỹ) và tổ chức tín dụng. Thủ tục gửi và thanh toán ký quỹ được thực hiện theo quy định của pháp luật1 cũng thường có sự tham gia của các tổ chức tín dụng như ký quỹ để đỉ làm việc ỏ nước ngoài, ký quỹ để cho thuê lại lao động, ký quỹ bảo đảm dự thầu hay ký quỹ để xin giấy phép hoạt động dịch vụ việc làm. Ngoài ra, tịch thu tài sản từng được pháp luật quy định là một biện pháp bảo đảm hình sự, theo đó người phạm tội phải đặt cọc một khoản tiền để "bảo đảm việc ra tòa và việc bắt giữ" (nay được gọi là tiền thế chân và tiền bảo lãnh trong tố tụng hình sự). . Đối với lĩnh vực ngân hàng, việc ký quỹ chỉ có thể được thực hiện bởi hai bên, bên thứ ba trong ký quỹ (con nợ) và tổ chức tín dụng (đồng thời là chủ nợ và bên nhận ký quỹ, thay vì phải ký quỹ tại một tổ chức tín dụng khác). Hay theo một số quy định khác, giao dịch ký quỹ không nhất thiết phải có sự tham gia của tổ chức tín dụng. Chẳng hạn, công ty chứng khoán cũng thực hiện ký quỹ. Luật Các tổ chức tín dụng 2010 cũng nêu rõ: “Nghiêm cấm thể nhân, tổ chức không phải là tổ chức tín dụng tham gia hoạt động ngân hàng, trừ giao dịch ký quỹ, mua, bán lại chứng khoán của công ty chứng khoán”. Như vậy, BLDS năm 2015 đã không điều chỉnh các trường hợp mà pháp luật ngân hàng quy định và thực tế lâu nay ngoài trường hợp bên nhận ba bên thì chỉ ghi nhận quan hệ bên nhận ba bên 'ba bên' khác. . Vấn đề ký quỹ này cũng đã được Hội đồng thẩm định dự thảo Bộ luật Dân sự kiến nghị với Bộ Tư pháp nhưng chưa được giải quyết. Sau đây là một ví dụ về vụ kiện “Bắt buộc đặt cọc cho thuê” trong đó chủ ngân hàng cũng là bên được ủy thác. Nếu một trong hai bên không phải là tổ chức tín dụng thì chỉ được sử dụng tiền ký quỹ hoặc tiền cầm cố. Ngày 29/12/1995, Ngân hàng TMCP K. ký hợp đồng thuê của Tổng công ty vận tải xuất nhập khẩu T. một phần căn nhà tại quận A, thành phố 'H. làm trụ sở đăng ký; với thời hạn thuê 38 năm, giá 3.000 đô la/tháng, thanh toán 2.000 đô la mỗi tháng và khấu trừ 1.000 đô la từ khoản đặt cọc 400.000 đô la. Nếu Ngân hàng K. tự chấm dứt hợp đồng thì số tiền đặt cọc sẽ được hoàn trả trong vòng 6 tháng. Bản án số 47/KTPT ngày 16-10-2001 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao (nay là TAND cấp cao) thành phố H. tuyên y án sơ thẩm. Ngày 28/8/1999, Ngân hàng K. thông báo cho Công ty T. về việc chấm dứt hợp đồng và yêu cầu trả lại 340.000 USD tiền đặt cọc trong thời hạn 6 tháng do giải thể và bán lại tài sản cho Ngân hàng TMCP V. . Bản án kinh tế sơ thẩm số 88/KTST ngày 15/5/2001 của Tòa án nhân dân thành phố H. buộc Công ty T. phải trả cho ngân hàng K. số tiền là 340.000 USD (đã quy đổi ra tiền Việt Nam). ).
5. Quyền và nghĩa vụ của các bên trong ký quỹ
Nghị định số 21/2021 quy định về quyền và nghĩa vụ của các bên trong ký quỹ như sau:
Các tổ chức tín dụng nơi ký quỹ có quyền, nghĩa vụ sau đây:
Hưởng phí dịch vụ;
Yêu cầu bên có quyền thực hiện đúng thỏa thuận về ký quỹ để được thanh toán nghĩa vụ từ tiền ký quỹ;
Thanh toán nghĩa vụ theo yêu cầu của bên có quyền trong phạm vi tiền ký quỹ;
Hoàn trả tiền ký quỹ còn lại cho bên ký quỹ sau khi thanh toán nghĩa vụ theo yêu cầu của bên có quyền và khi chấm dứt ký quỹ;
Có quyền, nghĩa vụ khác theo thỏa thuận hoặc do Bộ luật Dân sự, luật khác liên quan quy định. Quy định về bên ký quỹ có quyển, nghĩa vụ sau đây:
Thỏa thuận với tổ chức tín dụng nơi ký quỹ về điều kiện thanh toán theo đúng cam kết với bên có quyền;
Yêu cầu tổ chức tín dụng nơi ký quỹ hoàn trả tiền ký quỹ còn lại cho bên ký quỹ sau khi thanh toán nghĩa vụ theo yêu cầu của bên có quyền và khi chấm dứt ký quỹ; được trả lãi trong trường hợp có thỏa thuận với tổ chức tín dụng nơi ký quỹ;
Rút bớt, bổ sung tiền ký quỹ hoặc đưa tiền ký quỹ tham gia giao dịch dân sự khác trong trường hợp bên có quyền đồng ý;
Nộp đủ tiền ký quỹ tại tổ chức tín dụng nơi ký quỹ;
Có quyền, nghĩa vụ khác theo thỏa thuận hoặc do Bộ luật Dân sự, luật khác liên quan quy định. Quyền avf nghĩa vụ của bên có quyền trong ký quỹ
Yêu cầu tổ chức tín dụng nơi ký quỹ thanh toán nghĩa vụ đầy đủ, đúng hạn trong phạm vi tiền ký quỹ;
Thực hiện đúng thủ tục theo yêu cầu của tổ chức tín dụng nơi ký quỹ trong việc thực hiện quyền yêu cầu tổ chức tín dụng than toán;Có quyền, nghĩa vụ khác theo thỏa thuận hoặc do Bộ luật Dân sự, luật khác liên quan quy định. Trường hợp tổ chức tín dụng chỉ mỏ tài khoản và thanh toán theo yêu cầu của bên nhận ký quỹ thì có thể dẫn đến tình trạng chỉ bảo đảm quyền lợi cho bên nhận ký quỹ, mà không bảo đảm quyền lợi cho bên ký quỹ, vì tổ chức tín dụng chỉ thực hiện theo yêu cầu của bên nhận ký quỹ. Vì vậy, các bên hoàn toàn có thể thỏa thuận khác, chẳng hạn mở tài khoản và thanh toán theo lệnh của một trong ba bên như sau: Bên tổ chức tín dụng có quyền và nghĩa vụ tự động trích tiền từ tài khoản để thanh toán, bồi thường thiệt hại cho Bên nhận ký quỹ khi phát sinh một hoặc trong cả ba trường hợp sau đây: thứ nhất, là theo yêu cầu tại văn bản thỏa thuận của bên ký quỹ và bên nhận ký quỹ; thứ hai, là theo văn bản yêu cầu của bên ký quỹ và thứ ba, là theo văn bản yêu cầu của bên nhận ký quỹ. Trường hợp thứ nhất dễ dẫn đến bế tắc nếu hai bên không thống nhất được với nhau. Hai trường hợp còn lại, quyền lợi của một bên được bảo đảm nhưng quyền lợi của bên kia không được bảo đảm. Vì vậy, các bên có thể thỏa thuận để tổ chức tín dụng thanh toán theo yêu cầu của người nhận tiền và/hoặc người nhận tiền, nếu trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được ý kiến của người nhận tiền mà bên được thông báo không thanh toán. phản đối bằng văn bản. Trường hợp một trong các bên phản đối, hồ sơ có tranh chấp thì tổ chức tín dụng chỉ thực hiện chi khi người nhận và người thụ hưởng của người nhận đã giải quyết xong tranh chấp.
Bình luận