1 Cơ sở pháp lý
Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017
Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự 2015
Pháp lệnh 02/2022/UBTVQH15
2 Làm thế nào để không tố giác tội phạm?
Theo quy định tại Điều 19 BLHS 2015 sửa đổi bổ sung tại Điều 5, Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung BLHS 2015 và định nghĩa khái niệm “tố giác tội phạm”. Điều 144 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 thì việc không tố giác tội phạm được hiểu như sau:
Không tố giác tội phạm là biết mà không tố giác, phát hiện tội phạm mà không biết là im lặng không tố giác để cơ quan chức năng đã biết xử lý. Việc phát hiện tội phạm có thể diễn ra khi người phạm tội đang chuẩn bị thực hiện hành vi phạm tội, hoặc trong khi hành vi phạm tội đang được thực hiện hoặc đã hoàn thành. Việc “tố giác tội phạm” được coi là nghĩa vụ bắt buộc của công dân, phát sinh ngay khi họ biết, phát hiện hành vi phạm tội của người khác. Phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn tội phạm là trách nhiệm của công dân. Bất kỳ người nào biết hoặc theo bất kỳ cách nào biết hoặc chứng kiến hành vi phạm tội của người khác đang được chuẩn bị, đang được thực hiện hoặc đã được thực hiện, ngay cả khi người đó có đủ tư cách để làm như vậy. không tố giác tội phạm hoặc tố giác sự việc đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết thì có thể bị xử lý theo quy định của pháp luật.
Không tố giác tội phạm xử phạt hành chính
3 Không tố giác tội phạm có bị xử phạt hành chính không?
Hiện nay, trong các văn bản quy phạm pháp luật chưa đề cập đến việc xử phạt hành chính đối với hành vi vi phạm không trình báo. Với hành vi này, theo quy định của BLHS, người phạm tội không tố giác tội phạm nhất định sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Cụ thể, tội không tố giác tội phạm được quy định tại Điều 390 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bởi Khoản 138 Mục 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2015 như sau:
"Quy tắc 390. Tội không tố giác tội phạm
1.Người nào biết rõ một trong các tội phạm quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều 14 của Bộ luật này đang được chuẩn bị hoặc một trong các tội phạm quy định tại Điều 389 của Bộ luật này đang được thực hiện hoặc đã được thực hiện mà không tố giác, nếu không thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 19 của Bộ luật này, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
- Người không tố giác nếu đã có hành động can ngăn người phạm tội hoặc hạn chế tác hại của tội phạm, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt.”
Trong đó căn cứ theo quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều 14 của Bộ luật Hình sự 2015 thì người thực hiện hành vi không “tố giác” hành vi phạm tội sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội không tố giác tội phạm nếu tội phạm mà họ không tố giác thuộc một trong các tội sau đây:
Các tội được quy định trong Bộ luật hình sự tại các Điều 108, đến Điều 123, Điều 134, Điều 207, Điều 299, Điều 300, đến Điều 303 và Điều 324, Điều 109, các khoản 2, 3 và 4 Điều 141, Điều 142, Điều 144, khoản 2 và khoản 3 Điều 146, các khoản 1, 2 và 3 Điều 150, các điều 151, 152, 153 và 154; Điều 168, Điều 169, các khoản 2, 3 và 4 Điều 173, các khoản 2, 3 và 4 Điều 174, các khoản 2, 3 và 4 Điều 175, các khoản 2, 3 và 4 Điều 178; Khoản 3 và khoản 4 Điều 188, khoản 3 Điều 189, khoản 2 và khoản 3 Điều 190, khoản 2 và khoản 3 Điều 191, khoản 2 và khoản 3 Điều 192, các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều 193, các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều 194, các khoản 2, 3 và 4 Điều 195, khoản 2 và khoản 3 Điều 196, khoản 3 Điều 205, các khoản 2, 3 và 4 Điều 206, Điều 208, khoản 2 và khoản 3 Điều 219, khoản 2 và khoản 3 Điều 220, khoản 2 và khoản 3 Điều 221, khoản 2 và khoản 3 Điều 222, khoản 2 và khoản 3 Điều 223, khoản 2 và khoản 3 Điều 224; Khoản 2 và khoản 3 Điều 243; Điều 248, 249, 250, 251, 252 và 253, khoản 2 Điều 254, các điều 255, 256, 257 và 258, khoản 2 Điều 259; các khoản 2, 3 và 4 Điều 265, các điều 282,, các khoản 2, 3 và 4 Điều 305, các khoản 2, 3 và 4 Điều 309, các khoản 2, 3 và 4 Điều 311, khoản 2 và khoản 3 Điều 329; Các khoản 2, 3 và 4 Điều 353, các khoản 2, 3 và 4 Điều 354, các khoản 2, 3 và 4 Điều 355, khoản 2 và khoản 3 Điều 356, các khoản 2, 3 và 4 Điều 357, các khoản 2, 3 và 4 Điều 358, các khoản 2, 3 và 4 Điều 359, các khoản 2, 3 và 4 Điều 364, các khoản 2, 3 và 4 Điều 365; khoản 3 và khoản 4 Điều 373, khoản 3 và khoản 4 Điều 374, khoản 2 Điều 386; điều 421, 422, 423, 424 và 425. Tuy nhiên trong các trường hợp sau người không tố giác tội phạm sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Khoản 2, Khoản 3 Điều 19 Bộ luật hình sự. Cụ thể:
– Người không tố giác là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội không phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều này, trừ trường hợp không tố giác các tội quy định tại Chương XIII của Bộ luật này hoặc tội khác là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
– Người không tố giác là người bào chữa không phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều này, trừ trường hợp không tố giác các tội quy định tại Chương XIII của Bộ luật này hoặc tội khác là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do chính người mà mình bào chữa đang chuẩn bị, đang thực hiện hoặc đã thực hiện mà người bào chữa biết rõ khi thực hiện việc bào chữa.
Đối với chủ thể đáp ứng đủ các yếu tố cấu thành của tội Không tố giác tội phạm, nhưng họ đã có hành động can ngăn người phạm tội hoặc có những biện pháp để hạn chế tác hại của tội phạm mà mình không tố giác thì tùy vào từng mức độ mà Tòa án có thể xem xét cho người này được miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt.
4 Tố giác, tin báo về tội phạm sai sự thật sẽ bị xử phạt hành chính
Đây chính là quy định mới được thể hiện tại Pháp lệnh 02/2022/UBTVQH15 về xử phạt vi phạm hành chính với hành vi cản trở hoạt động tố tụng có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 9 năm 2022. Theo Điều 9 Pháp lệnh 02/2022/UBTVQH15 quy định về hành vi tố giác, báo tin về tội phạm sai sự thật thì sẽ bị xử phạt như sau:
– Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi cố ý tố giác, báo tin về tội phạm sai sự thật.
– Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này:
Cố ý tố giác, báo tin về tội phạm sai sự thật làm ảnh hưởng đến uy tín của cơ quan, người có thẩm quyền;
Lôi kéo, xúi giục, lừa dối, mua chuộc, đe dọa hoặc sử dụng vũ lực buộc người khác tố giác, báo tin về tội phạm sai sự thật.
- Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với luật sư thực hiện hành vi quy định tại khoản 2 Điều này. - Hình phạt bổ sung:
Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đối với hành vi quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này. Vì vậy, việc không tố giác tội phạm là vi phạm pháp luật. Công dân nếu phát hiện tội phạm và có điều kiện tố giác mà không tố giác là phạm tội. Đồng thời, nếu báo cáo không đúng sự thật cũng sẽ bị xử lý. Theo quy định tại Điều 56 Bộ luật tố tụng hình sự, người tố giác tội phạm, người cung cấp tin báo về tội phạm có các nghĩa vụ sau đây: Có mặt theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền xử lý tin báo về tội phạm và trình bày trung thực những sự việc mà mình biết được về vụ việc . Do đó, nếu tố giác tội phạm sai sự thật thì sẽ bị phạt tiền về tội cản trở quá trình tố tụng với mức phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng tùy theo đối tượng phạm tội và hậu quả xảy ra. Người phạm tội công vụ sẽ bị tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để thực hiện hành vi vi phạm hành chính nêu trên.
Nội dung bài viết:
Bình luận