khởi tố và bắt tạm giam
1. Khởi tố là gì?
Khởi tố là bước đầu tiên trong tố tụng hình sự, trong đó cơ quan tố tụng hình sự sẽ xác định xem có (hoặc không) dấu hiệu tội phạm đang thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội. Đồng thời, cơ quan có thẩm quyền cũng ra quyết định khởi tố (hoặc không khởi tố) vụ án hình sự liên quan đến hành vi này.
Khởi tố hay truy cứu trách nhiệm hình sự là một bước tố tụng độc lập, mở đầu cho hoạt động điều tra nên chức năng chủ yếu của nó là thực hiện những nhiệm vụ cụ thể nhằm xác định những cơ sở pháp lý về nội dung và hình thức điều tra vụ án hình sự. Việc khởi tố bắt đầu từ thời điểm nhận được thông tin đầu tiên về việc thực hiện hành vi phạm tội và kết thúc bằng việc cơ quan có thẩm quyền quyết định có khởi tố hay không khởi tố vụ án hình sự liên quan đến hành vi này.
Khởi tố vụ án hình sự cũng được coi là một khâu cơ bản và quan trọng trong tố tụng hình sự nhằm tăng cường pháp quyền, bảo vệ các quyền và tự do của công dân trước khi khởi tố bị can và áp dụng các biện pháp khác. Giai đoạn tiếp theo là giai đoạn điều tra. Việc truy cứu trách nhiệm hình sự cũng như các giai đoạn tiếp theo của tố tụng hình sự sẽ góp phần đắc lực vào việc đấu tranh phòng, chống tội phạm trong xã hội.
2. Tạm giam là gì?
Tạm giam là biện pháp cách ly bị can, bị cáo khỏi cơ quan quản lý cấp xã trong một thời gian nhất định nhằm ngăn chặn hành vi trốn tránh pháp luật của bị cáo, cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc ngăn ngừa khả năng tiếp tục phạm tội. tội phạm. bị cáo, bảo đảm cho việc điều tra, truy tố, xét xử thuận lợi. Tạm giữ là biện pháp cưỡng chế nghiêm ngặt, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền tự do thân thể của công dân.
Theo quy định tại Điều 119 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, chủ thể của thời hạn tạm giam là bị can, bị cáo trong các trường hợp sau đây: 1) Bị can, bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng; 2) Bị can, bị cáo phạm tội nghiêm trọng hoặc tội phạm ít nghiêm trọng mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tù trên 02 năm và trong trường hợp có căn cứ cho rằng người đó có thể trốn hoặc cần cản trở việc điều tra. , truy tố, xét xử hoặc có thể phạm tội. Đối với bị can, bị cáo là phụ nữ có thai hoặc đang trong thời gian nuôi con dưới 36 tháng tuổi, già yếu, bệnh nặng và có nơi cư trú rõ ràng thì không tạm giam mà áp dụng biện pháp từ: khác. Chỉ trong những trường hợp đặc biệt như phạm tội nghiêm trọng, phạm tội rất nghiêm trọng, phạm tội đặc biệt nghiêm trọng và nếu có căn cứ cho rằng nếu không bị tạm giam thì người đó có thể trốn hoặc cản trở việc điều tra, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội thì bị tạm giam.
Tạm giam trước khi xét xử phải được người có thẩm quyền ra lệnh bắt bị can, bị cáo để thực hiện việc tạm giam trước khi xét xử. Lệnh tạm giam của Trưởng Công an, Phó Trưởng Công an cấp huyện; Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra cấp tỉnh trở lên; Trưởng phòng, Phó trưởng phòng điều tra các cấp trong quân đội nhân dân phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành. Lệnh tạm giam phải ghi rõ ngày, tháng, năm, họ tên, chức danh người ra lệnh; họ, tên, địa chỉ của người bị tạm giữ; lý do tạm giữ, thời hạn tạm giữ và cung cấp cho người bị tạm giam bản sao (XI. thời gian nắm giữ). Cơ quan ra lệnh tạm giam trước khi xét xử phải xác minh lai lịch của người bị tạm giam trước khi xét xử và phải thông báo ngay cho gia đình người đó, chính quyền cấp xã, quận, huyện hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó cư trú. hoặc hoạt động.
Nội dung bài viết:
Bình luận