Khi chưa khởi tố nhưng không được bắt tạm giam như thế nào

khởi tố nhưng không bắt tạm giam

khởi tố nhưng không bắt tạm giam

 

1. Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về tạm giam

Bộ luật tố tụng hình sự quy định về tạm giam như sau:

 

     “Điều 119. Tạm giam

 

  1. Tạm giam có thể áp dụng đối với bị can, bị cáo về tội đặc biệt nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng.

 

  1. Tạm giam có thể áp dụng đối với bị can, bị cáo về tội nghiêm trọng, tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tù trên 02 năm khi có căn cứ xác định người đó thuộc một trong các trường hợp:



  1. a) Đã bị áp dụng biện pháp ngăn chặn khác nhưng vi phạm;



  1. b) Không có nơi cư trú rõ ràng hoặc không xác định được lý lịch của bị can;

 

  1. c) Bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã hoặc có dấu hiệu bỏ trốn;

 

  1. d) Tiếp tục phạm tội hoặc có dấu hiệu tiếp tục phạm tội;

 

đ) Có hành vi mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm và người thân thích của những người này.

 

  1. Tạm giam có thể áp dụng đối với bị can, bị cáo về tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tù đến 02 năm nếu họ tiếp tục phạm tội hoặc bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã.



  1. Đối với bị can, bị cáo là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, là người già yếu, người bị bệnh nặng mà có nơi cư trú và lý lịch rõ ràng thì không tạm giam mà áp dụng biện pháp ngăn chặn khác, trừ các trường hợp:

 

  1. a) Bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã;

 

  1. b) Tiếp tục phạm tội;

 

  1. c) Có hành vi mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm hoặc người thân thích của những người này;

 

  1. d) Bị can, bị cáo về tội xâm phạm an ninh quốc gia và có đủ căn cứ xác định nếu không tạm giam đối với họ thì sẽ gây nguy hại đến an ninh quốc gia.



  1. Những người có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 113 của Bộ luật này có quyền ra lệnh, quyết định tạm giam. Lệnh tạm giam của những người được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 113 của Bộ luật này phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành. Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được lệnh tạm giam, đề nghị xét phê chuẩn và hồ sơ liên quan đến việc tạm giam, Viện kiểm sát phải ra quyết định phê chuẩn hoặc quyết định không phê chuẩn. Viện kiểm sát phải hoàn trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra ngay sau khi kết thúc việc xét phê chuẩn.

 

  1. Cơ quan điều tra phải kiểm tra căn cước của người bị tạm giam và thông báo ngay cho gia đình người bị tạm giam, chính quyền xã, phường, thị trấn nơi người bị tạm giam cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người bị tạm giam làm việc, học tập biết.”

 

Khi chưa khởi tố có được tạm giam không

Khi chưa khởi tố có được tạm giam không

 

     Theo quy định trên ta thấy, đối tượng bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam được xác định là bị can và bị cáo.

 

Bị can được hiểu là người hoặc pháp nhân bị khởi tố về hình sự

Bị cáo được hiểu là người hoặc pháp nhân đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xét

2. Khi chưa khởi tố cơ quan tiến hành tố tụng có được tạm giam nghi can, nghi phạm không?

 Khởi tố vụ án là bước đầu tiên trong tố tụng hình sự, khi vụ án chưa được khởi tố  thì  không được thực hiện các hoạt động tố tụng khác theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, trừ một số hoạt động như: 

 

 Thu thập thông tin, tài liệu, đồ vật từ cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan để thẩm tra, xác minh nguồn cung cấp thông tin; 

 xem xét hiện trường; 

 Khám nghiệm tử thi; 

 Yêu cầu giám định, yêu cầu giám định bất động sản. Việc khởi tố bị can sẽ được tiến hành sau khi đã có quyết định khởi tố vụ án. Quyết định khởi tố bị can được đưa ra khi CQĐT đã xác định được  người đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội. Như đã phân tích ở trên,  tạm giam trước khi xét xử chỉ  được áp dụng đối với bị can, bị cáo. Nói cách khác, việc tạm giam có thể được thực hiện sau khi đã có quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can. Từ đó có thể kết luận rằng trường hợp chưa khởi tố (bao gồm cả khởi tố vụ án và khởi tố bị can) thì người trung gian sẽ không thể áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam trước khi xét xử.

 

Nội dung bài viết:

    Hãy để lại thông tin để được tư vấn

    comment-blank-solid Bình luận

    084.696.7979 19003330 Báo giá Chat Zalo