Mẫu số 07: Mẫu bản kết luận giám định pháp y tâm thần là gì? Mẫu số 07: Mẫu kết luận giám định pháp y tâm thần? Hướng dẫn lập Mẫu số 07: Mẫu kết luận giám định pháp y tâm thần? Một số luật liên quan?
Theo quy định của pháp luật giám định pháp y tâm thần được quy định ở giai đoạn tố tụng hình sự. Ra quyết định giám định pháp y tâm thần khi có yêu cầu là việc Cơ quan điều tra nhận thấy bị can, bị cáo có dấu hiệu bệnh lý cần giám định để xác định loại bệnh tật mà bị can, bị cáo hoặc những người khác có liên quan mắc phải. lấy kết quả làm căn cứ khởi kiện theo quy định của pháp luật.

1. Mẫu số 07: Mẫu bản kết luận giám định pháp y tâm thần là gì?
Tâm thần pháp y (PYTT) là một phân ngành của tâm thần học, đã phát triển cùng với sự phát triển chung của tâm thần học. Nếu như tâm thần học chỉ tập trung nghiên cứu vấn đề chẩn đoán, tìm ra nguyên nhân, bản chất của bệnh nhằm mục đích chữa và phòng bệnh, thì lĩnh vực y học chủ yếu nghiên cứu mối quan hệ đặc biệt của rối loạn tâm thần đối với các vụ án dân sự và hình sự.
Mẫu kết luận giám định pháp y là mẫu kết luận về việc xác định đối tượng giám định pháp y là bị can phạm tội, người bị hại đã chết,... được tiến hành bởi cơ quan giám định pháp y. Trong mẫu bản kết luận giám định pháp y tâm thần cần phải thể hiện rõ thông tin người yêu cầu giám định, thông tin đối tượng giám định và kết luận giám định.
Mẫu kết luận giám định pháp y tâm thần là mẫu bản kết luận được lập bởi các giám định viên tham gia giám định đối với đối tượng là bị can phạm tội, người bị hại đã chết. Biên bản có giá trị pháp lý khi có đầy đủ thông tin về người trưng cầu giám định, đối tượng giám định, kết luận giám định và chữ ký của những người tham gia giám định.
2. Mẫu số 07: Mẫu kết luận giám định pháp y tâm thần:
Mẫu số 7
BỘ Y TẾ
TÊN TỔ CHỨC GIÁM ĐỊNH (1)
——-
Số: /KLGĐ
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
—————
…..(2), ngày ……. tháng …… năm……
KẾT LUẬN GIÁM ĐỊNH PHÁP Y TÂM THẦN THEO TRƯNG CẦU
|
Ảnh 4×6 cm của đối tượng giám định, đóng dấu ráp lai |
I. THÔNG TIN CHUNG– Họ, tên người trưng cầu giám định:……
– Quyết định trưng cầu giám định số:….ngày….. tháng …..năm 20……. của cơ quan tiến hành tố tụng: …… – Người ký (họ tên, chức vụ):…. – Họ tên đối tượng giám định………..Tuổi…….Giới:…… |
– Nơi thường trú của đối tượng: ………
– Đối tượng giám định là:….. (3)…… Trong vụ án/ việc:……. (4)….
– Nội dung trưng cầu giám định:……
– Thời điểm tiếp nhận đối tượng giám định:……
– Hình thức giám định:……
– Quyết định phân công người tham gia giám định số…….ngày…..tháng……..năm…… của tổ chức giám định:……
– Họ và tên người thực hiện giám định: (Nêu rõ họ tên, học hàm, học vị, chức danh, đơn vị công tác và vai trò của từng giám định viên tham gia giám định):……
– Địa điểm tiến hành giám định: ……
– Thời gian tiến hành giám định: ……
II. TÓM TẮT LỊCH SỬ BẢN THÂN VÀ QUÁ TRÌNH LIÊN QUAN ĐẾN VỤ VIỆC
– Lịch sử bản thân:…….
– Diễn biến quá trình liên quan đến vụ án/vụ việc: ……
– Quá trình theo dõi giám định: ……
– Tóm tắt triệu chứng, hội chứng về tâm thần:……
– Kết quả các xét nghiệm cận lâm sàng có giá trị chẩn đoán:……
III. KẾT LUẬN
1. Kết luận:……
2. Ý kiến khác (nếu có) ……
THƯ KÝ
(ký, ghi rõ họ tên)
CÁC GIÁM ĐỊNH VIÊN THAM GIA GIÁM ĐỊNH (6)
(ký, ghi rõ họ tên)
THỦ TRƯỞNG TỔ CHỨC GIÁM ĐỊNH
(ký, ghi rõ họ tên và đóng dấu của tổ chức giám định)
3. Hướng dẫn lập Mẫu số 07: Mẫu kết luận giám định pháp y tâm thần:
(1): Ghi rõ tên của Tổ chức giám định (Viện/Trung tâm)
(2): Ghi rõ địa danh tỉnh nơi Tổ chức giám định đặt trụ sở
(3): Đối tượng là: bị hại/bị can/người đang thi hành án/nhân chứng/nguyên đơn/bị đơn…
(4): Vụ án/vụ việc: hình sự/dân sự/hành chính.
4. Một số quy định pháp luật có liên quan:
Trong giám định pháp y tâm thần, một vấn đề quan trọng là xác định năng lực trách nhiệm hình sự.
Theo nguyên tắc cơ bản của pháp luật, những người bình thường trên 14 tuổi phạm tội phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi phạm pháp của mình.
Người bị bệnh tâm thần chỉ được coi là mất năng lực trách nhiệm hình sự khi do một trạng thái rối loạn tâm thần cấp tính hoặc mãn tính mà họ mất ý thức, không làm chủ được hành vi của mình. Rối loạn hoạt động tâm thần trong chừng mực bệnh nhân không hiểu hậu quả của hành động của mình, không nhận ra bản chất có hại của hành động đối với xã hội và tính bất hợp pháp của hành động đó. Các nhà pháp y tâm thần, trên cơ sở các tài liệu y học thực tế, nghiên cứu trạng thái tinh thần của bị can trong quá trình phạm tội để giải quyết vấn đề năng lực và trách nhiệm.
Các tiêu chuẩn của pháp y phân tâm học
Về tiêu chuẩn y tế:
Tiêu chuẩn y tế thuộc phạm vi chẩn đoán các bệnh như tâm thần phân liệt, loạn thần phản ứng, v.v., nhưng không phải bệnh tâm thần nào cũng được miễn trách nhiệm đối với hành vi vi phạm pháp luật mà còn phải xem xét từng trường hợp cụ thể.
Có những bệnh như tâm thần phân liệt, liệt toàn thân tiến triển, chỉ một số trường hợp bệnh nhân được coi là có khả năng chịu trách nhiệm. Nhưng có những bệnh như bệnh nhân cách, chỉ trong trường hợp đặc biệt người bệnh mới bị coi là không đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.
Về tiêu chuẩn pháp lý:
Gồm hai yếu tố: khả năng nhận thức hành vi và khả năng ý chí điều khiển, định hướng hành vi của mình. Nội dung của các quy phạm pháp luật không nên bị giải thích hạn chế. Thực tế là có một số người mà hành vi của họ dường như hoàn toàn do ý chí, nhưng điều đó không có nghĩa là họ vẫn có thể chịu trách nhiệm.
Vấn đề không chỉ là khả năng nhận thức hành vi mà còn là khả năng nhận thức tính chất nguy hiểm của những hành vi đó.
Ý nghĩa của các tiêu chuẩn pháp luật là phân tích, đánh giá cụ thể tính chất, mức độ rối loạn tâm thần của bị can tại thời điểm phạm tội. Vì vậy, cần phải có đầy đủ các đặc điểm về cả tiêu chuẩn y tế và tiêu chuẩn pháp lý thì mới có đủ căn cứ xác định năng lực trách nhiệm hình sự. Người giám định căn cứ vào tình hình bệnh tật, tính chất nguy hiểm của hành vi do người bệnh gây ra mà cho ý kiến về việc bắt buộc hoặc không bắt buộc chữa bệnh đối với người được coi là không đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đối với người mắc bệnh tâm thần sau khi vi phạm. luật.
Bắt buộc chữa bệnh được áp dụng đối với người rối nhiễu tâm trí có hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng như chém chết, đánh người gây thương tích, giết người, gây rối trật tự trị an.
Việc bắt buộc chữa bệnh và quyền tạm dừng việc bắt buộc chữa bệnh do Toà án quyết định sau khi có sự đánh giá của bác sĩ chuyên khoa tâm thần về trạng thái tâm thần của người bệnh.
Tiêu chuẩn đối với bác sĩ tâm thần pháp y:
Tiêu chuẩn giám định viên pháp y tâm thần có tư cách chính trị tốt.
Tiêu chuẩn chuyên gia pháp y tâm thần có trình độ chuyên môn từ đại học trở lên. Tiêu chuẩn giám định viên pháp y tâm thần phải có ít nhất 5 năm kinh nghiệm chuyên môn trong chuyên môn này.
Như vậy, khi có từ 3 giám định viên tâm thần trở lên thì thành lập đoàn giám định pháp y tâm thần và cử giám định viên trưởng.
Nhiệm vụ và quyền hạn của giám định viên:
Về nhiệm vụ của thanh tra:
Người giám định thực hiện nội dung giám định theo yêu cầu của cơ quan yêu cầu.
Người thẩm định ra kết luận thẩm định bằng văn bản và chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết luận này.
Người giám định phiên dịch kết luận giám định theo yêu cầu của tổ chức tiến hành tố tụng. – Người đánh giá sẽ thực hiện đánh giá bổ sung hoặc đánh giá lại theo yêu cầu của tổ chức thực hiện thủ tục.
– Giám định viên không được tiết lộ tài liệu và kết quả giám định.
- Cán bộ báo cáo thực hiện theo các quy định khác của pháp luật tố tụng.
Người nào từ chối hoặc trốn tránh trách nhiệm ra kết luận giám định thì bị xử lý theo quy định của pháp luật.
Về quyền hạn của người đánh giá
– Người đánh giá từ chối thực hiện đánh giá nếu không đủ thời gian để thực hiện đánh giá. Người giám định yêu cầu tổ chức tiến hành thủ tục hoàn thiện hồ sơ và tạo mọi điều kiện cần thiết cho việc giám định.
– Người đánh giá ghi kết luận của mình vào phần kết luận chung nếu không thống nhất với kết luận chung (trường hợp đánh giá tập thể).
Khi tham gia giám định trước Hội đồng xét xử, người giám định có thể đặt câu hỏi cho bị can.
Trong quá trình thẩm định, thẩm định viên được các cơ quan pháp luật bảo vệ tính mạng, tài sản và danh dự.
Mẫu giám định pháp y tâm thần
- Phiếu Thanh tra Bệnh viện:
Hình thức giám định này với những trường hợp khó, phức tạp phục vụ cho việc chẩn đoán bệnh cũng như xác định năng lực trách nhiệm hình sự. Phạm nhân được giữ trong trung tâm giám định y tế của bệnh viện tâm thần.
Người đánh giá có trách nhiệm theo dõi quá trình khám lâm sàng và thực hiện các xét nghiệm cần thiết cho bộ phận đánh giá. đồng thời nghiên cứu tài liệu do cơ quan thanh tra cung cấp. Khi đáp ứng đầy đủ các yêu cầu thì tiến hành giám định và viết kết luận bằng văn bản. Thời gian giam giữ trung bình để đánh giá tại bệnh viện là 6 tuần. Trường hợp xét thấy cần gia hạn thì phải thông báo rõ với tổ chức trưng cầu giám định.
- Hình thức khám tại phòng khám:
Áp dụng những trường hợp đơn giản để chẩn đoán và xác định năng lực trách nhiệm hình sự. Người phạm tội được đưa đến một phòng khám chuyên khoa, nơi giám định viên tiến hành điều tra và đưa ra kết quả giám định. Tất nhiên người đánh giá phải nghiên cứu hồ sơ và làm các test cần thiết cho lần đánh giá trước.
- Hình thức kiểm tra tại chỗ:
Trong một số trường hợp, nếu sau khi người đánh giá xem xét, việc tiến hành đánh giá tại chỗ là có thể và thực tế, thì hãy tiến hành. Thường được áp dụng cho trường hợp giam giữ, nếu việc trả tự do gặp khó khăn về mặt hành chính và phức tạp về mặt kỹ thuật.
- Hình thức giám định đối với Hội đồng xét xử:
Hình thức đánh giá trong hội đồng xét xử chỉ áp dụng đối với trường hợp có bệnh rõ ràng và phải điều trị tại bệnh viện. Mục đích của hình thức giám định này về cơ bản là để chuyên gia được triệu tập trong hội đồng chuyên gia để làm rõ thêm các kết luận của hội đồng chuyên gia hoặc của chính anh ta cho hội đồng chuyên gia và những người tham gia.
- Phiếu đánh giá vắng mặt:
Vắng mặt giám định là trường hợp giám định đặc thù, thường gặp trong giám định pháp y tâm thần, khi bị can, bị cáo không có mặt. Khi cả hai bên vắng mặt, chúng tôi có thể nói về việc xem xét hồ sơ. Việc giám định vắng mặt được thực hiện với bị can, nạn nhân chết, sau đó bị cáo tự sát. Việc giám định chỉ dựa trên hồ sơ và nhân chứng.
Như vậy, trong quá trình xem xét đầy đủ hồ sơ, tòa án hoặc các sàn vẫn nghi ngờ kết luận của hội đồng giám định tư pháp này và chuyển hồ sơ cho hội đồng giám định khác.
Các trường hợp cần phải đánh giá hành vi của người quá cố trong các vụ án dân sự được gọi là đánh giá vắng mặt một phần (hoặc một phần).
Nội dung bài viết:
Bình luận