Hòa giải vụ án dân sự là hoạt động tố tụng do Tòa án tiến hành nhằm giúp các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc dân sự. Vậy hòa giải trong vụ án dân sự là gì? Thủ tục trông như thế nào?
1. Ý tưởng
Sau khi thụ lý vụ án, để giải quyết vụ án, tòa án sẽ giải thích pháp luật, hỗ trợ các bên đương sự giải quyết tranh chấp, thỏa thuận giải quyết các vấn đề của Vụ án dân sự (VADS). Hành động pháp lý này được gọi là hòa giải VADS. Hòa giải vụ án dân sự là hoạt động tố tụng do Tòa án tiến hành nhằm giúp các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án dân sự.
Cơ sở của hòa giải VADS là quyền tự định đoạt của đương sự. Để giải quyết VADS bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự, tòa án không chỉ quyết định mà còn phải tiến hành hòa giải VADS. Điều 10 Bộ luật tố tụng dân sự quy định Tòa án có trách nhiệm tiến hành hòa giải, tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc dân sự theo quy định của Bộ luật này.
Việc hòa giải được tiến hành trước khi xét xử VADS. Tuy nhiên, theo điều 220 và 270 BLTTDS, khi xét xử sơ thẩm và phúc thẩm, tòa án còn hỏi các bên đương sự có thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết VADS hay không? Nếu các bên đương sự thoả thuận được với nhau về việc giải quyết VADS thì Toà án ra quyết định công nhận sự thoả thuận của các bên đương sự. Như vậy, hòa giải trước khi xét xử sơ thẩm là thủ tục bắt buộc, trừ những vụ việc không được hòa giải hoặc pháp luật không thể hòa giải. Quy định này bắt nguồn từ tầm quan trọng của việc hòa giải. Nếu hòa giải thành cũng có nghĩa là tòa án đã giải quyết xong vụ án mà không mở phiên tòa xét xử.2. Nguyên tắc hòa giải
Việc hòa giải được tiến hành theo nguyên tắc quy định tại khoản 2 Điều 205 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, theo đó:
Thứ nhất, hòa giải phải tôn trọng sự tự nguyện của các bên, không bắt buộc, ép buộc các bên tranh chấp phải tiến hành hòa giải. Khi các bên liên quan đã tự nguyện đạt được thỏa thuận, tức là các bên liên quan lựa chọn giải quyết những bất đồng của mình thông qua hòa giải, thương lượng và tự thỏa thuận với nhau để giải quyết các vấn đề của vụ việc. Thứ hai, việc hòa giải phải được tiến hành đúng quy định của pháp luật, nội dung hòa giải không được trái pháp luật, đạo đức xã hội. Tức là ngoài sự tự nguyện thỏa thuận của các bên đương sự, việc hòa giải tại tòa còn phải đáp ứng các điều kiện: tuân thủ trình tự, thủ tục hòa giải; phạm vi hòa giải theo quy định của pháp luật; Nội dung thỏa thuận giữa các bên không được trái pháp luật, đạo đức xã hội
Hơn nữa, hòa giải phải tích cực, kiên trì thì mới có kết quả hòa giải. Tích cực để có thể nhanh chóng giải quyết vụ việc, không để việc hòa giải kéo dài vô ích khi không thể hòa giải được mà phải kiên trì giải thích cho các đương sự hiểu rõ pháp luật áp dụng để giải quyết vụ việc, tháo gỡ sâu sắc những vướng mắc trong tâm tư, tình cảm của họ.3. Tầm quan trọng của hòa giải
Hòa giải vừa có tác dụng hướng dẫn, vừa tạo điều kiện để các bên đương sự thỏa thuận với nhau về việc tự giải quyết vụ án dưới sự hướng dẫn, giám sát của Tòa án. Vì vậy, nếu hoà giải thành là phương thức giải quyết vụ việc rất hiệu quả, vừa giữ gìn, hàn gắn tình đoàn kết, vừa tiết kiệm thời gian, công sức, tiền của cho các bên đương sự và cho Nhà nước. Như vậy, pháp luật tố tụng đã dần quy định hòa giải là thủ tục bắt buộc. Trường hợp vụ án có quy định bắt buộc hòa giải mà Tòa án không tiến hành hòa giải thì được coi là sai sót nghiêm trọng về tố tụng và là căn cứ để hủy án.
Một trong những nguyên tắc của quá trình hòa giải là tôn trọng sự tự nguyện thỏa thuận của các bên liên quan, không dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực buộc các bên phải đạt được thỏa thuận trái với ý chí của họ. Sự tự do, tự phát thực sự trong quá trình hòa giải là yếu tố quan trọng mà Thẩm phán phải lưu ý trong quá trình chủ trì hòa giải. Tuy nhiên, sự thỏa thuận tự do, tự nguyện giữa các bên liên quan vẫn được điều chỉnh bởi nguyên tắc hòa giải thứ hai, đó là nội dung thỏa thuận giữa các bên không được trái pháp luật, đạo đức xã hội. Điều này có nghĩa là sự tự do, tự nguyện thỏa thuận phải tôn trọng và tuân theo các nguyên tắc chung của pháp luật và đạo đức xã hội. Các đương sự không được thỏa thuận làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của người khác, kể cả trường hợp quyền và lợi ích đó có thể thuộc về người thân thích của họ, trừ trường hợp người này đồng ý thì phải mời họ tham gia hòa giải.
Thỏa thuận của các bên cũng không nhằm mục đích trốn tránh nghĩa vụ với người khác, v.v. Ví dụ: A và B ly hôn, A nợ c hoặc nợ K tiền bồi thường. Để trốn tránh nghĩa vụ này, A đã thỏa thuận tặng toàn bộ tài sản cho B hoặc A và B thỏa thuận tặng hết tài sản cho con v.v.
Trong thực tiễn, một số thẩm phán chỉ chú trọng đến nguyên tắc tự nguyện thỏa thuận mà chưa chú ý đến nguyên tắc thứ hai nên có trường hợp trong nội dung thỏa thuận chia tài sản, tài sản của cha, mẹ hoặc người khác cũng được hai bên thỏa thuận phân chia hoặc có trường hợp ngoài quan hệ pháp luật chính của các bên tranh chấp còn có giao dịch khác gắn liền với quan hệ bảo đảm chính là thẩm phán, v.v.
Trong quá trình hòa giải cần lưu ý: không phải các bên đương sự thỏa thuận như thế nào thì công nhận mà Tòa án phải xem xét, đánh giá và có quyền yêu cầu các bên đương sự chứng minh tài sản hoặc quyền tài sản mà họ nêu ra trong quá trình thương lượng, hòa giải là của họ, họ có quyền đối với tài sản này. Trong quan hệ tình cảm và con cái, nội dung các bên đã thỏa thuận không được vi phạm điều cấm của pháp luật.4. Phạm vi hòa giải
4.1. Các vụ án không được hòa giải
Theo quy định tại Điều 206 Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành thì cũng có những vụ án dân sự không được hòa giải, đó là:
a) Những vụ án dân sự phát sinh từ giao dịch vi phạm điều cấm của pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội:
Các giao dịch vi phạm Điều 117 và Điều 123 Bộ luật dân sự năm 2015 được coi là các giao dịch vi phạm điều cấm của pháp luật hoặc đạo đức xã hội.
Đốĩ với các vụ án hôn nhân và gia đình, các trường hợp không được hòa giải là:
- Các vụ án ly hôn có vi phạm độ tuổi kết hôn (ví dụ: đến lúc ly hôn hai bên vẫn chưa đủ tuổi kết hôn);
- Không tiến hành đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật;
- Vi phạm nghiêm trọng sự tự nguyện khi kết hôn như bị cưỡng ép, lừa dốỉ khi kết hôn;
- Trường hợp kết hôn vi phạm nguyên tắc một vợ một chồng;
- Các bên nam, nữ mắc bệnh tâm thần, không có khả năng nhận thức hành vi của mình;
- Các trường hợp kết hôn cùng dòng máu về trực hệ, giữa những người có họ trong phạm vi ba đòi;
- Kết hôn giữa cha mẹ nuôi và con nuôi; giữa những người từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, bố chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, bố dượng với con riêng của vợ, mẹ kế vối con riêng của chồng;
- Giữa những người cùng giới tính.
b) Yêu cầu đòi bồi thường gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước.
- “Tài sản của Nhà nước” được hiểu là tài sản thuộc hình thức sở hữu nhà nước quy định tại Điều 197 Bộ luật dân sự năm 2015 và được điều chỉnh theo các quy định tại mục 1 Chương XVI Bộ luật dân sự năm 2015.
“Yêu cầu đòi bồi thưòng gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước” là trường hợp tài sản của Nhà nưốc bị thiệt hại do hành vi trái pháp luật, do hợp đồng vô hiệu, do vi phạm nghĩa vụ dân sự... gây ra và “người” được Nhà nước với tư cách chủ sở hữu trao quyển cho họ quản lý, khai thác, sử dụng đối với tài sản của Nhà nước, “người” này có yêu cầu đòi bồi thường.
Khi thi hành quy định tại khoản 1 Điều 206 Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành cần phân biệt:
Trường hợp tài sản của Nhà nưởc được giao cho cơ quan, tổ chức, đơn vị vũ trang quản lý, sử dụng hoặc đầu tư vào doanh nghiệp nhà nước do Nhà nước thực hiện quyền sở hữu thông qua cơ quan có thẩm quyền, thì khi có yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại đến loại tài sản này, Tòa án không được hòa giải để các bên đương sự thỏa thuận vối nhau về việc giải quyết vụ án.
Trường hợp tài sản của Nhà nước được Nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp nhà nước, góp vốn trong các doanh nghiệp liên doanh có vốn đầu tư của các chủ sỏ hữu khác theo quy định của Luật doanh nghiệp, Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam mà doanh nghiệp được quyền tự chủ chiếm hữu, sử dụng hoặc định đoạt tài sản và chịu trách nhiệm trước Nhà nước đôì vối tài sản đó trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, thì khi có yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại đến tài sản đó, Tòa án tiến hành hòa giải để các bên đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án theo thủ tục chung.
- Tòa án không được hòa giải vụ án dân sự phát sinh từ giao dịch trái pháp luật (giao dịch vi phạm điều cấm của pháp luật) hoặc trái đạo đức xã hội, nếu việc hòa giải nhằm mục đích để các bên tiếp tục thực hiện các giao dịch đó. Trường hợp các bên chỉ có tranh chấp về việc giải quyết hậu quả của giao dịch vô hiệu do trái pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội, thì Tòa án vẫn phải tiến hành hòa giải để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết hậu quả của giao dịch vô hiệu đó. Ví dụ: A, B và c cùng sở hữu một ngôi nhà và đất tại thôn X, xã Q nhưng A đã chuyển nhượng cho K với giá 1.000.000.000 đồng, do A không làm thủ tục hoàn tất hợp đồng đã thỏa thuận nên K khởi kiện yêu cầu A trả lại nhà cho mình (vì K đã giao đủ tiền cho A). Trong trường hợp này, tòa án không can thiệp để các bên tiếp tục thực hiện hợp đồng nhưng có quyền can thiệp để các bên thỏa thuận giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu như thanh toán tiền gốc, bồi thường thiệt hại…4.2. trường hợp không thể hòa giải
a) Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn tự nguyện vắng mặt (đối với mỗi lần triệu tập hợp lệ mà bị đơn cố tình vắng mặt thì phải lập biên bản có chữ ký của những người làm chứng, làm căn cứ xác định sự vắng mặt của bị đơn).
Giấy triệu tập hợp lệ là giấy triệu tập được lập theo đúng quy định tại Chương XIII Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành (về vấn đề này tác giả sẽ nói ở chuyên đề khác).
Nếu bị đơn đã được Toà án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì Toà án lập biên bản hoà giải không thành do bị đơn vắng mặt và ra quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung. Nếu tại phiên tòa mà bị đơn yêu cầu tòa án hoãn phiên tòa để tiến hành hòa giải thì tòa án không chấp nhận, vì đây không phải là lý do hoãn phiên tòa mà cần tạo điều kiện để các bên thỏa thuận với nhau trong việc giải quyết vụ án.
b) Đương sự không thể tham gia hòa giải vì lý do chính đáng (ví dụ: một trong các đương sự đang ở nước ngoài).
c) Đương sự là vợ, chồng trong vụ án ly hôn là người mất năng lực hành vi dân sự.
Trong trường hợp không tiến hành hòa giải được thì Thẩm phán phải thu thập tài liệu (ví dụ: kết luận của người giám định hoặc lời khai của người làm chứng, cơ quan chức năng, tài liệu khác,...) để chứng minh việc hòa giải không thành.5. Thành phần hòa giải:
Theo quy định tại Điều 209 Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành thì người chủ trì hòa giải phải là thẩm phán do tòa án xét xử vụ án chỉ định để quyết định vụ án. Thư ký là người duy nhất lập biên bản hòa giải.
Do thiếu nhận thức nên trên thực tế Tòa án đã cử thư ký chủ trì hòa giải, hoặc ngụy tạo dưới hình thức trong biên bản là Thẩm phán chủ trì hòa giải, nhưng thực chất do thư ký tiến hành hòa giải nên Thẩm phán không tham dự mà chỉ ký vào biên bản hòa giải sau khi hòa giải xong. Đây được coi là hành vi vi phạm tố tụng.
Một yếu tố quan trọng của hòa giải là sự có mặt của các bên hoặc đại diện hợp pháp của họ. Toà án phải triệu tập các đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của họ tham gia phiên hoà giải.
Nếu việc hòa giải vụ án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của các bên đương sự trong vụ án mà đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của họ vắng mặt thì Thẩm phán phải hoãn phiên hòa giải để mở lại phiên hòa giải khác với sự có mặt của các bên đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của họ.
Trường hợp có nhiều quan hệ pháp luật, nhiều đương sự tham gia, mà mỗi quan hệ pháp luật chỉ quan hệ trực tiếp với một số đương sự trong vụ án, tại phiên hòa giải mà một trong các đương sự vắng mặt nhưng các đương sự có mặt vẫn đồng ý tiến hành hòa giải và việc hòa giải này không ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của đương sự vắng mặt thì Thẩm phán vẫn phải tiến hành hòa giải các đương sự có mặt; nếu đương sự yêu cầu hoãn phiên hòa giải để tất cả các đương sự có mặt trong vụ án thì Thẩm phán phải hoãn phiên hòa giải. Khi hoãn phiên hòa giải, Thẩm phán phải thông báo cho các bên có liên quan và thông báo thời điểm bắt đầu lại phiên hòa giải.
Ngoài các yếu tố nêu trên, trong trường hợp cần thiết, Thẩm phán có thể yêu cầu những người, cơ quan, tổ chức có liên quan tham gia phiên hòa giải. Đây không phải là yếu tố bắt buộc mà tùy từng trường hợp cụ thể, thẩm phán xét thấy việc bổ sung yếu tố này sẽ có lợi, khả năng hòa giải thành cao hơn, v.v. thì thẩm phán mời cơ quan, tổ chức, cá nhân này.
Nếu đương sự không biết tiếng Việt thì phải mời người phiên dịch.6. Hình thức và nội dung hòa giải
6.1. Nội dung hòa giải (điều 210 Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành):
Xuất phát từ yêu cầu của các bên đương sự về việc xác định nội dung hòa giải. Tuỳ theo quan hệ pháp luật (có tranh chấp), Thẩm phán thông báo cho các bên các quy định của pháp luật liên quan đến việc giải quyết vụ án để các bên liên hệ quyền, nghĩa vụ và thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án. Khi hòa giải, Thẩm phán phân tích để các bên biết hậu quả pháp lý của việc hòa giải thành như: vụ án được kết thúc nhanh chóng, tiết kiệm thời gian, giảm án phí... và hậu quả của việc hòa giải không thành để các bên tự nguyện thỏa thuận trong việc giải quyết vụ án. Ngoài việc hòa giải những vấn đề liên quan đến nội dung mà các bên tranh chấp, thẩm phán cần yêu cầu các bên liên quan thỏa thuận về việc ai chịu án phí, mỗi người phải chịu mức độ bạo lực ra sao... Trong hòa giải, thẩm phán không nên nói trước ý kiến chỉ đạo của tòa án nếu các bên không thống nhất được.
6.2. Trình tự, thủ tục phiên hòa giải:
Để tiến hành phiên hòa giải, trước hết Tòa án phải thông báo cho các bên đương sự, người đại diện hợp pháp của họ và các chủ thể khác mà Tòa án xét thấy cần thiết về thời gian, địa điểm tiến hành phiên hòa giải và nội dung vấn đề cần hòa giải. Trước khi tiến hành phiên hòa giải, trên cơ sở biên bản của Thư ký về sự có mặt, vắng mặt của các bên được triệu tập, Thẩm phán chủ trì phiên hòa giải xác minh sự có mặt, nhận dạng của những người tham gia phiên hòa giải. Sau đó, Thẩm phán cho phép các đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của họ trình bày ý kiến về nội dung tranh chấp và đề xuất những vấn đề cần hòa giải. Thẩm phán chủ trì việc hòa giải theo nội dung quy định tại Điều 185 Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành. Khi xét thấy yêu cầu không đúng pháp luật, Thẩm phán cần phân tích các quy định pháp luật có liên quan để các bên hiểu rõ; xác định trục mà các bên phải thảo luận, thương lượng và thống nhất. Nếu có mời đương sự khác tham gia hòa giải thì phải để họ phát biểu. Đối với những nội dung mà các bên đã thống nhất nhưng có nội dung chưa rõ ràng, cụ thể thì yêu cầu các bên trình bày bổ sung những điểm chưa rõ hoặc chưa thống nhất để tiếp tục thống nhất. Thực tế đã có trường hợp các bên đương sự thỏa thuận chia nhà, đất nhưng không xác định cụ thể kích thước, xa gần như trường hợp: Ông Nguyễn Văn D thỏa thuận cho Nguyễn Văn B diện tích đất có chiều rộng mặt đường X khoảng 12m... nhưng Tòa án vẫn ra quyết định công nhận sự thỏa thuận đó dẫn đến không thể thi hành án.
Trong quá trình hoà giải, nếu các bên thống nhất được với nhau về tất cả các yêu cầu mà hai bên đặt ra thì Thẩm phán cũng phải kết luận để các bên hiểu và thống nhất về những vấn đề đã thoả thuận. Khi các đương sự đã thống nhất với nhau về những vấn đề cần giải quyết trong vụ án thì phải lập biên bản hòa giải thành. Biên bản hòa giải thành phải ghi rõ nội dung các bên đã thống nhất. Các bên đương sự, thư ký và những bên khác (nếu có) được mời tham gia phiên hòa giải phải ký tên hoặc điểm chỉ, Chủ tọa phiên tòa ký tên, đóng dấu vào biên bản hòa giải thành. Biên bản này phải được gửi cho các bên có mặt và vắng mặt tại phiên hòa giải. Trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày lập biên bản hòa giải, nếu một trong các bên có thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận thì phải thông báo ngay bằng văn bản cho Tòa án. Trường hợp các đương sự trực tiếp đến Tòa án trình bày ý kiến về những thay đổi kèm theo biên bản hòa giải thành thì Thẩm phán phải lập biên bản có chữ ký của họ và lưu hồ sơ. Sau bảy ngày, kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành, nếu không có bên nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận này thì Thẩm phán ra quyết định công nhận sự thỏa thuận này. Trường hợp vì lý do khách quan mà Thẩm phán không quyết định được thì Chánh án TAND tối cao phân công Thẩm phán khác ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các bên.
Thực tế trong quá trình hòa giải còn xảy ra những sai sót như: biên bản hòa giải tuy có nội dung mà các bên thống nhất được nhưng khi ghi biên bản hòa giải thành lại không có những nội dung nhất định đã được các bên thống nhất và ngược lại, có trường hợp biên bản ghi nội dung hòa giải không có nhưng khi viết lại dưới dạng “biên bản hòa giải thành” thì không có nội dung này; Có trường hợp biên bản hoặc biên bản hòa giải thành không có chữ ký của các bên và biên bản hòa giải thành không được gửi cho các bên đương sự. Ngoài ra, có trường hợp các bên đương sự không thống nhất với nhau về chi phí luật sư trong biên bản hòa giải thành, giữa biên bản hòa giải thành và quyết định công nhận sự thỏa thuận cũ của các bên đương sự không thống nhất với nhau. Chính những trường hợp có sai sót nghiêm trọng phải được cải chính thì quyết định công nhận sự thỏa thuận mới hợp pháp và có giá trị pháp lý. Khi hòa giải và đưa ra quyết định, điều quan trọng cần lưu ý là:
Về phương pháp đối chiếu:
Để hòa giải có hiệu lực và hiệu quả cao, thẩm phán phải thể hiện là người sâu sát, vô tư, khách quan và công bằng, lắng nghe các bên, hiểu rõ bản chất của mâu thuẫn và xung đột lợi ích của các bên, hiểu biết sâu rộng về kiến thức xã hội liên quan đến vấn đề cần hòa giải, phải linh hoạt hòa giải và giảm bớt căng thẳng cho các bên. Dù bằng cách nào thì thẩm phán cũng phải phát hiện và biết được nguyên nhân của mâu thuẫn, nguyên nhân của sự thiếu thiện chí của mỗi bên, mức độ mâu thuẫn và đâu là điểm quan trọng nhất, cốt yếu nhất cần tập trung giải quyết mâu thuẫn này.
Mỗi đương sự có một tính cách và cách thể hiện cảm xúc khác nhau, có người mềm mỏng, bao dung, có người thô lỗ, cứng rắn, thậm chí hung hãn, cũng có thể cả hai bên đều lớn tiếng, cứng rắn… thông qua hành vi của họ, nắm bắt được mục đích, ý đồ của mỗi bên cũng như lợi ích mà các bên quan tâm để xây dựng phương án tác động, gợi ý một thỏa thuận pháp lý để các bên cùng suy nghĩ. Thẩm phán cũng không được có thái độ áp đặt trong quá trình hòa giải mà phải thể hiện là người chia sẻ, là “trọng tài” vô tư, tạo hiệu ứng tâm lý tốt trong quá trình hòa giải. Hòa giải dễ thành công.
Về việc ra quyết định:
Thẩm phán chỉ quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự nếu các đương sự tự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án, kể cả án phí. Nếu các bên liên quan thỏa thuận được với nhau về các vấn đề của vụ án nhưng chỉ có án phí do ai chịu hoặc nếu các bên không thỏa thuận được về án phí thì thẩm phán không ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các bên mà phải đưa vụ án ra xét xử tại phiên tòa xét xử, tùy theo diễn biến của phiên tòa mà các bên thỏa thuận được với bên nào thì sẽ được ghi nhận trong bản án, bên nào không thỏa thuận được sẽ được tập huấn giải quyết.
Trong trường hợp có đương sự vắng mặt tại phiên hoà giải mà các đương sự có mặt thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án thì thoả thuận này chỉ có hiệu lực đối với đương sự có mặt và Thẩm phán chỉ ra quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự có mặt nếu việc hoà giải đó không ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của đương sự vắng mặt. Trong trường hợp sự thỏa thuận đó ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của đương sự vắng mặt thì thỏa thuận này chỉ có hiệu lực khi bên vắng mặt tại phiên hòa giải biết hết nội dung thỏa thuận tại phiên hòa giải và chấp nhận bằng văn bản thì Thẩm phán mới ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự. Quyết định công nhận sự đồng ý của đương sự có hiệu lực pháp luật ngay sau khi ban hành; đương sự không kháng cáo được, Viện kiểm sát không kháng nghị được nhưng quyết định này được xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm khi có căn cứ nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa, vi phạm thủ tục tố tụng, không trình bày đầy đủ sự thỏa thuận của các bên; giữa nội dung biên bản thỏa thuận, biên bản hòa giải thành, quyết định công nhận hòa giải thành, bị đương sự tố cáo hoặc có nội dung trái pháp luật, trái đạo đức khác.
Nội dung bài viết:

Bình luận