Hiệu lực biên bản hòa giải

1. Khái niệm

 Bản án được hiểu là văn bản ghi lại phán quyết của Tòa án sau khi kết thúc việc xét xử  vụ án. Bản án là căn cứ đánh dấu sự kết thúc của toàn bộ quá trình điều tra,  truy tố, xét xử nên nội dung  bản án cần phản ánh  kết quả xét xử và phản ánh  ý kiến ​​phân tích, đánh giá của Hội đồng xét xử bản án. Bản án cũng  là  văn bản có giá trị pháp lý cao nhất trong một vụ án, tranh chấp được đưa ra tòa án. 

 

 Biên bản hòa giải thành có thể  hiểu là văn bản ghi lại toàn bộ diễn biến  quá trình hòa giải thành vụ án dân sự  giữa các bên đương sự. Biên bản hòa giải thành là biên bản do Tòa án lập  khi các bên tham gia vụ án dân sự thỏa thuận được với nhau về những vấn đề cần  giải quyết trong vụ án. 

 2. Biên bản hòa giải thành có giá trị như bản án của tòa án không?  

Hòa giải được hiểu là  thủ tục bắt buộc trong quá trình giải quyết vụ án dân sự. Nếu các bên tự thỏa thuận  với nhau về những vấn đề cần giải quyết trong vụ án thì Tòa án ra quyết định hòa giải thành. Nếu các bên liên quan không hòa giải được thì Tòa án sẽ quyết định vụ việc dựa trên các chứng cứ do hai bên đưa ra. Theo Điều 212 Bộ luật tố tụng dân sự  2015  quy định: “Hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành mà các bên không có  ý kiến ​​thay đổi thì Thẩm phán chủ trì phiên hòa giải hoặc Thẩm phán được Chánh án Tòa án ủy quyền phải ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các bên. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày tuyên quyết định công nhận sự thỏa thuận của các bên đương sự, Tòa án phải chuyển quyết định này cho các bên đương sự và VKS cùng cấp. 

 Mặt khác, theo quy định tại Điều 213 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015: “Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự có hiệu lực pháp luật ngay sau khi tuyên và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm. Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự chỉ có thể bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm nếu có căn cứ cho rằng sự thỏa thuận này là do  nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa,  ép buộc hoặc vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội. 

 

 Như vậy, theo  quy định của Bộ luật tố tụng dân sự Việt Nam thì biên bản hòa giải thành của Tòa án lập chưa có hiệu lực pháp luật. Theo đó, biên bản hòa giải thành chỉ có hiệu lực pháp luật khi tòa án ra quyết định công nhận sự thỏa thuận giữa các đương sự trong vụ án dân sự. 

 Hơn nữa, quyết định công nhận sự thỏa thuận giữa các bên của tòa án có giá trị pháp lý như bản án đã có hiệu lực pháp luật và có hiệu lực thi hành ngay. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các bên đương sự, Tòa án phải gửi quyết định công nhận sự thỏa thuận của các bên cho  đương sự và Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp.  

 Từ những phân tích trên có thể thấy, biên bản hòa giải thành  không có hiệu lực bằng bản án của tòa án, bởi thủ tục lập biên bản hòa giải thành của tòa án và bản án của tòa án là hai thủ tục khác nhau. Tuy nhiên, cả biên bản hòa giải thành  và bản án của tòa án đều có giá trị pháp lý đối với nguyên đơn và bị đơn.  

th?id=OIP

3. Biên bản hòa giải thành có được gửi cho bên vắng mặt không?  

Theo quy định tại khoản 5 Điều 211 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, trong trường hợp các đương sự trong vụ án tự thỏa thuận được với nhau về những vấn đề cần  giải quyết trong vụ án dân sự thì tòa án sẽ lập biên bản hòa giải thành. Biên bản hòa giải thành được gửi ngay sau khi có quyết định của Tòa án để các bên đương sự tham gia hòa giải. 

 

 Qua đó có thể thấy, trong thực tiễn giải quyết các vụ việc dân sự, một vấn đề nảy sinh  được nhiều người, đặc biệt là các đương sự trong vụ án dân sự tham gia hòa giải quan tâm, đó là  biên bản hòa giải thành có nên được gửi ngay cho các bên vắng mặt tại phiên hòa giải hay không. Cụ thể có hai trường hợp như sau: 

 

 – Trường hợp tại phiên hòa giải có đương sự vắng mặt, tuy nhiên các đương sự có mặt tại phiên hòa giải đã thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án dân sự và thỏa thuận của đương sự có mặt trong phiên hòa giải đã được Thẩm phán công nhận vì những thỏa thuận đó không ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ của đương sự vắng mặt.  

 – Trường hợp tại phiên hòa giải có đương sự vắng mặt, mà các đương sự có mặt đã thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án dân sự, tuy nhiên sự thỏa thuận của các đương sự có mặt tại phiên hòa giải có ảnh hưởng tới quyền và nghĩa vụ của đương sự vắng mặt nhưng sự thỏa thuận của đương sự có mặt tại phiên hòa giải vẫn có thể được Thẩm phán công nhận trong trường hợp đương sự vắng mặt đã có văn bản đồng ý theo như sự thỏa thuận của các đương sự có mặt tại phiên hòa giải.  

 4. Tiêu chí xác định hòa giải thành 

 Điều kiện để coi một vụ việc dân sự được tính là vụ việc hòa giải thành bao gồm: 

 

 – Các đương sự tự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án dân sự và đã được Thẩm phán ra quyết định công nhận sự thỏa thuận đó theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; 

 

 

 – Sau khi tiến hành hòa giải, nguyên đơn của vụ việc dân sự đã rút đơn khởi kiện, đông thời Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự với lý do người khởi kiện đã rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; 

 

 – Đối với vụ án ly hôn, vụ án tranh chấp con nuôi hoặc chia tài sản khi ly hôn mà sau khi tiên hành hòa giải, các đương sự (vợ, chồng) thống nhất thỏa thuận đoàn tụ thì đây cũng được xác định là trường hợp nguyên đơn trong vụ án dân sự rút đơn khởi kiện và khi đó Thẩm phán ra quyết định công nhận sự thỏa thuận giữa các đương sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; 

 

 – Đối với vụ án ly hôn, tranh chấp con nuôi hoặc chia tài sản khi ly hôn mà sau khi được Thẩm phán tiến hành mở phiên hòa giải nhưng các đương sự của vụ án không đoàn tụ nhưng lại thuận tình ly hôn, đã thỏa thuận nuôi con, chia tài sản chung và được Tòa án công nhận thuận tình ly hôn thì cũng được coi là hòa giải thành và khi đó Thẩm phán ra quyết định công nhận sự thỏa thuận giữa các đương sự; 

 

 – Vụ việc dân sự yêu cầu thuận tình ly hôn, yêu cầu về thỏa thuận nuôi con hoặc chia tài sản khi ly hôn mà sau khi tiến hành hòa giải, các đương sự của vụ án là vợ, chồng quyết định đoàn tụ và được Thẩm phán ra quyết định đình chỉ giải quyết yêu cầu theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 thì được coi là hòa giải thành. 

  1. Quan điểm hiện nay về quyết định công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án 

 Quyết định công nhận hòa giải thành tại Tòa án hiện nay còn nhiều quan điểm trái chiều, không đồng nhất giữa các cơ quan hữu quan và giữa các Thẩm phán trong cùng một cơ quan xét xử dẫn đến việc thi hành pháp luật không đồng nhất, không được hiệu quả.  

 

 – Thứ nhất, hiện nay chưa có văn bản pháp luật nào quy định cụ thể biểu mẫu về “Quyết định công nhận kết quả hòa giải thành” mà theo quy định tại Điều 32 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án chỉ có quy định: “Sau khi lập biên bản ghi nhận kết quả hòa giải, biên bản ghi nhận kết quả đối thoại, Hòa giải viên chuyển biên bản cùng tài liệu kèm theo cho Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự, khiếu kiện hành chính để ra quyết định công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành trong trường hợp các bên có yêu cầu”.  

 Như vậy, sau khi các bên đương sự của vụ án hòa giải thành, Hòa giải viên sẽ tiến hành ghi nhận kết quả hòa giải bằng biên bản. Trong trường hợp các bên đương sự có yêu cầu thì Hòa giải viên sẽ thực hiện chuyển toàn bộ tài liệu có liên quan đến vụ án dân sự cùng với biên bản hòa giải thành đến Tòa án có thẩm quyền để Tòa án ra quyết định công nhận kết quả hòa giải thành. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa có hướng dẫn cụ thể về mẫu Quyết định công nhận kết quả hòa giải thành, do đó, khi Tòa án ban hành Quyết định công nhận kết quả hòa giải thành thì còn thiếu thống nhất về căn cứ ban hành và nội dung quyết định.  – Thứ hai, thủ tục ra quyết định công nhận kết quả hòa giải thành trước Tòa án chưa được áp dụng thống nhất trên thực tế. 

 Trên thực tế, trong trường hợp các bên  hòa giải thành và theo yêu cầu của họ, hòa giải viên phải  chuyển các tài liệu có liên quan và biên bản hòa giải thành cho Tòa án để Tòa án ra quyết định công nhận kết quả hòa giải thành. 

 

 Tuy nhiên, hiện nay các thẩm phán vẫn còn ý kiến ​​trái chiều về việc trước khi ra quyết định công nhận kết quả hòa giải thành, Tòa án có được thụ lý vụ án hay thẩm phán  xem xét và ra quyết định khi  đủ điều kiện mà không thụ lý trong thời hạn 15 ngày? Nếu trong trường hợp thẩm phán không thụ lý thì vụ án dân sự  sẽ được cập nhật vào hệ thống  nào để Tòa án xem xét và nếu thụ lý thì khi nào thẩm phán thụ lý? 

 Một số ý kiến ​​cho rằng tòa án đã ra quyết định công nhận kết quả hòa giải thành trong thời hạn quy định mà không thụ lý vụ án dân sự. Quan điểm khác  cho rằng Tòa án phải thụ lý vụ án trước khi ra quyết định công nhận kết quả hòa giải thành và thời điểm thụ lý vụ án là sau khi nhận được biên bản hòa giải thành và các tài liệu kèm theo do hòa giải viên gửi đến, vì nếu Tòa án không thụ lý  sẽ ảnh hưởng đến việc Tòa án đã  nhận đơn yêu cầu giải quyết vụ án của đương sự nhưng chưa ra quyết định giải quyết vụ án.

 

Nội dung bài viết:

    Hãy để lại thông tin để được tư vấn

    comment-blank-solid Bình luận

    084.696.7979 19003330 Báo giá Chat Zalo