Theo án lệ, cơ quan tư pháp hay hệ thống tòa án là hệ thống các tòa án nhân danh quyền tối cao hoặc nhà nước để thực thi công lý, cơ chế giải quyết tranh chấp. Cơ quan tư pháp là cơ quan nhà nước thực hiện quyền tư pháp, một trong ba quyền của quyền lực nhà nước thống nhất.

1. Khái niệm cơ quan tư pháp
Cơ quan tư pháp là cơ quan nhà nước thực hiện quyền tư pháp, một trong ba quyền của quyền lực nhà nước thống nhất.
Xem xét phân công các cơ quan tư pháp thông qua việc phát hiện kịp thời để thực hiện chức năng bảo vệ pháp luật, điều tra, truy tố, xét xử các hành vi vi phạm pháp luật, nguy hiểm cho xã hội. nhân danh nhà nước thực hiện để ra các hình phạt phù hợp theo quy định của Bộ luật hình sự hoặc giải quyết các tranh chấp dân sự, kinh tế, lao động, hành chính giữa thể nhân hoặc thể nhân với pháp nhân, nhân danh Nhà nước ra bản án, quyết định, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của thể nhân, pháp nhân. Về mô hình tổ chức, nhìn chung các cơ quan tư pháp chịu sự điều chỉnh của Hiến pháp - Luật cơ bản của Nhà nước. Qua bốn bản Hiến pháp Việt Nam năm 1946, 1959, 1980 và 1992, tổ chức các cơ quan tư pháp xét về chức năng và cơ cấu tổ chức cũng thể hiện những điểm điều chỉnh theo quan niệm và đường lối tổ chức tư pháp đôi khi.
Theo Điều 63, Chương VI “Cơ quan tư pháp” của Hiến pháp 1946, cơ quan tư pháp chỉ bao gồm Tòa án: “Cơ quan tư pháp của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa gồm có:
a) Tòa án tối cao;
b) tòa phúc thẩm;
c) Tòa án cấp hai và sơ thẩm”.
Như vậy, cơ quan tư pháp chỉ bao gồm tòa án ở 4 cấp, và chức năng xét xử - bảo vệ pháp luật chỉ do tòa án các cấp thực hiện. Đây là một đặc điểm rất đặc trưng của các cơ quan tư pháp thời kỳ đầu tiên của chính quyền nhân dân. Sắc lệnh số 13 ngày 24-1-1946 của Chủ tịch Hồ Chí Minh cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp trên tinh thần thể chế hóa tư tưởng và chủ trương tổ chức các cơ quan tư pháp thời kỳ đầu, xác lập hệ thống tư pháp. như sau: ở cấp xã có Ủy ban Tư pháp gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch và Thư ký là Thường trực của Ủy ban Hành chính và Tư pháp (điều 2) với nhiệm vụ như sau:
1) Hòa giải trong mọi vấn đề dân sự và thương mại;
2) Hình phạt dành cho những người vi phạm có quyền phạt tiền từ năm xu đến sáu đồng bạc;
3) Thi hành mệnh lệnh của thẩm phán cấp trên. Tiếp theo là Tòa án thứ nhất (ở cấp huyện), Tòa án thứ hai (ở cấp tỉnh) và Tòa án cấp cao ở cấp tỉnh.
Cần lưu ý rằng trong thành phần của Toà án cấp II và Toà án cấp cao đều có Thẩm phán làm chức năng điều tra, truy tố: ở cấp Toà án cấp II (cấp tỉnh) có Chánh án, Luật sư. , một chủ tọa phiên tòa. Ở những nơi có nhiều thứ có thể xáo trộn thì có thêm luật, phó tổng chưởng lý, tổng chưởng lý, xét về chức năng, thứ nhất là thẩm phán phụ trách điều tra hoặc: nhiệm vụ của công tố viên. Thẩm phán làm những công việc khác nhau nên có cách nói thẩm phán thường trực (làm nhiệm vụ truy tố) và thẩm phán ngồi (làm nhiệm vụ xét xử). Theo Nội các của Bộ trưởng Bộ Tư pháp kèm theo dự thảo Sắc lệnh số 13, tổ chức tư pháp được thiết kế như “cơ quan xử án, lập ra để hành chính…” và tòa án thứ ba ở đây thực hiện cả hai chức năng. được tổ chức thành các bộ phận riêng biệt trong hệ thống tư pháp. Tòa án nhân dân ba cấp (trung ương, cấp tỉnh và cấp huyện) được chuyên trách thực hiện chức năng xét xử, viện kiểm sát được tách khỏi tòa án các cấp thành một hệ thống riêng biệt thực hiện chức năng công tố, còn chức năng điều tra do tòa án nhân dân thực hiện các cấp Cơ quan điều tra thuộc Bộ Công an.
Như vậy, theo nghĩa chặt chẽ, cơ quan tư pháp chỉ bao gồm tòa án các cấp. Nhưng tòa án không chỉ ở Việt Nam mà ở các nước khác, có những giai đoạn không chỉ xét xử mà còn điều tra, truy tố, còn những giai đoạn khác chỉ dành cho chức năng xét xử, trong trường hợp này, ngoài tòa án, cơ quan tư pháp còn có cơ quan điều tra, cơ quan công tố ngoài tòa án.
2. Chế độ Thừa phát lại thời kỳ trước Hiến pháp 1946
Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, các cơ quan tư pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập gồm: Tòa án quân sự (TAQS), Tòa án đặc biệt, Tòa án quân sự và Tòa án thông thường (Tòa án tư pháp). TAQS được thành lập theo Sắc lệnh số 33/SL ngày 13-9-1995 tại các tỉnh, thành phố: Hà Nội, Hải Phòng, Thái Nguyên, Ninh Bình, Vinh, Quảng Ngãi, Sài Gòn, Mỹ Tho. Sau đó, theo Sắc lệnh số 77C ngày 18-12-1945, thêm 2 TAQS được thành lập tại Nha Trang và Phan Thiết. TAQS được tổ chức theo mô hình một cấp, có thẩm quyền xét xử trước hết và cuối cùng tất cả những người phạm tội phá hoại nền độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Việc xét xử các vụ án hình sự thường xâm phạm đến sức khỏe, nhân phẩm, danh dự, tài sản của công dân và trật tự, an toàn xã hội... còn các vụ án dân sự tạm thời được giao cho Ban Tư pháp trực thuộc Ủy ban hành chính cấp huyện, cấp tỉnh.
Theo Sắc lệnh số 163/SL ngày 23-8-1946, Tòa án quân sự lâm thời được thành lập tại Hà Nội, có thẩm quyền xét xử những quân nhân hoặc những người làm việc trong các cơ quan quân sự chuyên trách hoặc những tội phạm ảnh hưởng đến quân đội. Đồng thời, các tòa án quân sự ở mặt trận cũng được thành lập để xét xử nhanh các vụ án phát sinh ở các điểm sôi nổi, đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ cách mạng và xây dựng lực lượng vũ trang.
Theo Sắc lệnh số 64/SL ngày 23-11-1945, một Toà án đặc biệt được thành lập tại Hà Nội để xét xử những nhân viên của Uỷ ban hành chính các cấp và các cơ quan chính quyền phạm tội do Uỷ ban thanh tra đặc biệt truy tố. Toà án tư pháp các cấp đã được thành lập theo Sắc lệnh số 13/SL ngày 24-1-1946: Ở mỗi huyện (phủ, huyện, châu) có toà sơ thẩm; ở mỗi tỉnh và ở các thành phố Hà Nội, Hải Phòng, Sài Gòn, Chợ Lớn có Toà án cấp II; Mỗi kỳ có tòa phúc thẩm đặt tại Hà Nội, Huế (Thuận Hóa) và Sài Gòn. Toà án cấp sơ thẩm có thẩm quyền xét xử sơ thẩm và chung thẩm các vụ án hình sự, dân sự, thương mại. Tòa án cấp hai có thẩm quyền xét xử sơ thẩm và chung thẩm về hình sự, dân sự, thương mại; Khi xét xử các vụ án dân sự, thương mại, một mình Chánh án xét xử, nhưng khi xét xử các vụ án nhỏ thì phải có 02 người khác giúp việc, khi xét xử các vụ án hình sự thì Toà án cấp hai có 05 người cùng tham gia. quyền quyết định. Toà án cấp phúc thẩm có thẩm quyền xét xử các kháng cáo đối với bản án của Toà án cấp sơ thẩm và cấp hai.
Ngoài ra, theo điều 75 của sắc lệnh số 63 ngày 22 tháng 11 năm 1945, các ủy ban tư pháp thành phố được thành lập bao gồm: chủ tịch, phó chủ tịch và thư ký của ủy ban hành chính thành phố, để thực thi quyền hạn của họ về tư pháp địa phương. Sau đó, theo Sắc lệnh số 131/SL ngày 20/7/1946, tổ chức tư pháp công an đã được thành lập để điều tra các vụ phạm pháp đại hình, tiểu hình và vi cảnh, thu thập tang chứng và bắt người phạm pháp giao cho toà án xét xử.
Do yêu cầu củng cố sức mạnh của quân đội trong hoàn cảnh cuộc kháng chiến toàn quốc, TAQS và toà án binh được củng cố và mở rộng để kịp thời xét xử các tội phạm trong quân đội và trừng trị những người xâm hại đến sức chiến đấu của quân đội. Hệ thống toà án binh trong thời kì này bao gồm: Toà án binh mặt trận, toà án binh khu, Toà án binh tối cao và Toà án khu trung ương. Toà án binh mặt trận được thành lập từ cấp trung đoàn trở lên, có thẩm quyền xét xử sơ, chung thẩm những người phạm tội phản quốc, gián điệp hoặc cướp của, nhũng nhiễu nhân dân ở các điểm đang tác chiến; toà án binh khu có thẩm quyền xét xử những quân nhân phạm vào một hay nhiều tội định ở hình luật chung, một hay nhiều tội có tính cách nhà binh (Điều 67 Sắc lệnh 163/SL); Toà án binh tối cao có thẩm quyền xét xử những quân nhân từ cấp trung đoàn trở lên và các quân nhân thuộc cơ quan trung ương phạm vào các tội đã được quy định ở hình luật chung và những tội có tính cách nhà binh (Điều 67 Sắc lệnh số 163/SL) và Toà án khu trung ương tại Bộ quốc phòng, có thẩm quyền xét xử các nhân viên thuộc các cơ quan của Bộ quốc phòng và Bộ tổng chỉ huy, kể cả trung đoàn trưởng trở lên phạm tội trong địa bàn khu trung ương. Một đặc điểm đáng lưu ý trong thời kì này là toà án binh có nhiều chức năng khác nhau như xét xử, điều tra, công tố, tuyên truyền giáo dục pháp luật và quản lí phạm nhân. Ngày 22-5-1950, Sắc lệnh số 85/SL về cải cách tư pháp và luật tố tụng được ban hành. Từ đó, Tòa sơ thẩm được thay thế bằng Tòa án nhân dân cấp huyện; tòa án cấp 2 chuyển thành tòa án nhân dân cấp tỉnh; phiên tòa phúc thẩm chuyển thành phiên tòa phúc thẩm và các Hội thẩm nhân dân được gọi là Hội thẩm nhân dân; Hội thẩm nhân dân do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu, có nhiệm kỳ một năm, có quyền biểu quyết và xét xử như Thẩm phán. Sắc lệnh số 85/SL cũng quy định về việc thành lập các Ban Hòa giải ở cấp huyện và mở rộng thẩm quyền của Ban Tư pháp thành phố đối với các khoản tiền phạt và giải quyết một số vấn đề công an ít quan trọng hơn. Những cải cách này có ý nghĩa quan trọng trong việc mở rộng dân chủ, đưa cơ quan tư pháp đến gần với nhân dân, trở thành công cụ quan trọng trong việc thực hiện các nhiệm vụ cách mạng, phục vụ lợi ích của Nhà nước và của nhân dân.
Cơ quan điều tra cũng đã có những thay đổi đáng kể. Theo Sắc lệnh số 141/SL ngày 16-12-1953, Cục Công an Việt Nam do Thứ trưởng Bộ Công an thay thế và Hệ thống Cơ quan điều tra của Thứ trưởng Bộ Công an được thành lập, trong đó có Vụ Pháp luật. Thực thi và Cải cách lao động (ở cấp trung ương); Ban Chỉ đạo thi hành pháp luật (ở các tỉnh, thành phố) và Cục thi hành pháp luật (ở các liên khu).
Một trong những cải cách quan trọng, đánh dấu bước phát triển mới của các cơ quan tư pháp Việt Nam là tháng 4-1958, tại kỳ họp thứ 8 của Quốc hội (khóa I) đã thông qua Nghị quyết thành lập Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân Trung ương. . Từ đó, hệ thống tòa án nhân dân và viện kiểm sát được tách ra khỏi Bộ Tư pháp và do Hội đồng Chính phủ quản lý. Những cải cách này đã chính thức được quy định trong Hiến pháp năm 1959.
3. Hệ thống có quan tư pháp thời kì 1960 - 1980
Theo quy định của Hiến pháp năm 1959, tổ chức bộ máy nhà nước ta đã có những thay đổi căn bản, trong đó tổ chức bộ máy của các cơ quan tư pháp được quy định tại Chương VIII của Hiến pháp. Các cơ quan tòa án nhân dân và viện kiểm sát nhân dân đã hình thành một hệ thống thống nhất từ trung ương xuống địa phương và không trực thuộc Hội đồng Chính phủ nữa mà trực thuộc Quốc hội và hội đồng nhân dân cùng cấp.
Hệ thống toà án nhân dân bao gồm: Toà án nhân dân tối cao; các toà án nhân dân địa phương (cấp tỉnh thành phố trực thuộc trung ương; cấp huyện, thành phố trực thuộc tỉnh hoặc đơn vị hành chính tương đương và toà án khu tự trị) và các toà án quân sự (TAQS trung ương và các TAQS quân khu, quân binh chủng, sư đoàn trực thuộc Bộ quốc phòng và tương đương). Ngoài ra, theo Điều 97 Hiến pháp năm 1959, trong trường hợp cần xét xử những vụ án đặc biệt, Quốc hội có thể quyết định thành lập toà án đặc biệt. Hệ thống toà án nhân dân được tổ chức theo nguyên tắc hai cấp xét xử; các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của toà án nhân dân thời kì 1946-1960 đã được kế thừa và phát triển ở mức cao hơn, cụ thể là: Khi xét xử, toà án nhân dân có quyền độc lập và chỉ tuân theo pháp luật (Điều 100 Hiến pháp năm 1959); việc xét xử của toà án nhân dân có hội thẩm nhân dân tham gia… Khi xét xử, hội thẩm nhân dân ngang quyền với thẩm phán (Điều 99 Hiến pháp năm 1959); toà án nhân dân xét xử công khai; bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo (Điều 101 Hiến pháp năm 1959); toà án xét xử theo nguyên tắc mọi công dân đều bỉnh đẳng trước pháp luật (Điều 3 Luật tổ chức tòa án nhân dân năm 1960)…
Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp 1959, Luật tổ chức toà án nhân dân (Luật TCTAND) được đã được ban hành ngày 14/7/1960 và ngày 23/3/1961, Uỷ ban thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh quy định cụ thể về tổ chức của toà án nhân dân các cấp. Theo đó, Toà án nhân dân tối cao (TANDTC) có cơ cấu tổ chức gồm: Uỷ ban thẩm phán; các toà chuyên trách (toà hình sự, toà dân sự, toà phúc thẩm); hội đồng toàn thể thẩm phán và bộ máy giúp việc (Điều 1 Pháp lệnh). Chánh án TANDTC do Quốc hội bầu và bãi miễn với nhiệm kì 5 năm; các phó chánh án, thẩm phán, thẩm phán dự khuyết và uỷ viên Uỷ ban thẩm phán TANDTC do uỷ ban thường vụ Quốc hội bổ nhiệm và bãi nhiệm. TANDTC là cơ quan xét xử cao nhất của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, có thẩm quyền: Xét xử sơ thẩm các vụ án thuộc thẩm quyền của TANDTC và những vụ án của tòa án nhân dân cấp dưới mà TANDTC lấy lên để xử; phúc thẩm những bản án, quyết định của tòa án nhân dân cấp dưới bị kháng án hoặc bị kháng nghị; giám đốc thẩm việc xét xử của các tòa án nhân dân địa phương, TAQS và toà án đặc biệt; Hội đồng toàn thể thẩm phán TANDTC có nhiệm vụ duyệt lại các bản án tử hình của tòa án nhân dân các cấp trước khi các bản đó được đem thi hành. Cùng với chức năng xét xử, TANDTC còn có các chức năng khác: Có quyền trình các dự án luật, pháp lệnh về những vấn đề thuộc phạm vi công tác chuyên môn của mình; quản lí các tòa án nhân dân địa phương về mặt tổ chức; hướng dẫn các tòa án nhân dân cấp dưới áp dụng pháp luật; huấn luyện cán bộ toà án; nghiên cứu khoa học và tuyên truyền giáo dục pháp luật trong nhân dân.
Toà án nhân dân cấp tỉnh có cơ cấu tổ chức gồm: Chánh án, các phó chánh án các thẩm phán (do hội đồng nhân cùng cấp bầu ra và bãi miễn với nhiệm kì 4 năm) và bộ máy giúp việc. Tòa án nhân dân cấp tỉnh chỉ có Hội đồng thẩm phán, không có tòa chuyên trách. Toà án nhân dân cấp tỉnh được trao quyền xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự, dân sự thuộc thẩm quyền của mình và những vụ án thuộc thẩm quyền của cấp dưới mà Toà án nhân dân cấp tỉnh đã thụ lý; kháng cáo bản án, quyết định của cấp dưới bị kháng cáo, kháng nghị. Toà án nhân dân cấp tỉnh còn có trách nhiệm thành lập các tổ chức tư pháp địa phương, đào tạo thư ký địa phương, cán bộ tư pháp thành phố và xã, tổ chức tuyên truyền giáo dục pháp luật trong nhân dân. Pháp lệnh điều 9). Tòa án nhân dân cấp huyện có cơ cấu tổ chức gồm: Chánh án, các Thẩm phán và bộ máy giúp việc; Trường hợp cần thiết có thể có thêm một phó chánh án. Thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện là xét xử các vụ án dân sự, hình sự có hình phạt tù từ 02 năm trở xuống; hòa giải các tranh chấp dân sự và giải quyết những vụ việc nhỏ mà pháp luật không quy định phải mở phiên tòa. Tòa án nhân dân cấp huyện còn có nhiệm vụ xây dựng tổ chức tư pháp và hướng dẫn công tác hòa giải ở thị trấn, phường, thị trấn, phường cũng như tuyên truyền, giáo dục pháp luật.
Ngoài ra, trong thời kỳ này, ở hai khu tự trị Tây Bắc và Việt Bắc đã thành lập hai toà án cấp huyện là toà án khu tự trị Tây Bắc và toà án khu tự trị Việt Bắc.
Hệ thống TAQS thời kỳ này cũng có bước phát triển mới và có những đặc điểm riêng. Ở miền Bắc, các TAQS mới được thành lập (theo Quyết định số 165/TM ngày 21-2-1961 của Bộ Tổng Tham mưu QĐND Việt Nam thay thế các TAQS và Toà án quân sự đã thành lập trước đây), cụ thể: TAQS trung ương TAQS quân khu, lực lượng vũ trang, sư đoàn thuộc Bộ Quốc phòng và tương đương. TAQS; TAQS Đông Nam Bộ và TAQS cấp sư đoàn trên các mặt trận. Sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, hệ thống TAQS được xây dựng thống nhất về mặt tổ chức và hoạt động, gồm có: TAQS trung ương và 16 TAQS quân khu, quân chủng và tương đương.
Trong thời kì này, Bộ tư pháp giải thể (năm 1960) và việc quản lí tòa án nhân dân địa phương được giao cho TANDTC.
Hệ thống viện kiểm sát nhân dân được thành lập mới, thống nhất từ trung ương xuống địa phương, bao gồm: Viện kiểm sát nhân dân tối cao (VKSNDTC); các viện kiểm sát nhân dân địa phương. viện kiểm sát nhân dân có chức năng và thẩm quyền kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan nhà nước thuộc Hội đồng Chính phủ, các cơ quan nhà nước ở địa phương, các nhân viên nhà nước và công dân (Điều 105 Hiến pháp năm 1959); điều tra, truy tố trước tòa án nhân dân những người phạm tội về hình sự; giữ quyền công tố trước tòa án nhân dân cùng cấp; kiểm sát hoạt động xét xử của tòa án nhân dân và thi hành các bản án; kiểm sát hoạt động giam giữ, khởi tố hoặc tham gia tố tụng trong những vụ án dân sự quan trọng liên quan đến lợi ích của Nhà nước và của nhân dân (Điều 3 Luật tổ chức viện kiểm sát nhân dân năm 1960). Khác với hệ thống tòa án nhân dân, hệ thống viện kiểm sát nhân dân được tổ chức theo nguyên tắc thống nhất từ trung ương xuống địa phương: VKSNDTC là cơ quan thuộc Quốc hội, chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội và ủy ban thường vụ quốc hội (Điều 108 Hiến pháp năm 1959); viện kiểm sát nhân dân các cấp chịu sự chỉ đạo của viện kiểm sát nhân dân cấp trên và sự lãnh đạo thống nhất của VKSNDTC (Điều 107 Hiến pháp năm 1959). Đây là điểm khác biệt cơ bản của Viện kiểm sát nhân dân thời kỳ này so với thời kỳ trước.
Hệ thống cơ quan điều tra thời kỳ này bao gồm: cơ quan điều tra hình sự Bộ Công an, Bộ Quốc phòng và cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân các cấp. Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ trực tiếp điều tra một số loại tội phạm về kinh tế, tội phạm mà thủ phạm và hành vi của chúng đã tương đối rõ ràng; cơ quan điều tra Công an điều tra tất cả các vụ án phản cách mạng và tội phạm phức tạp; còn cơ quan điều tra quân đội tiến hành điều tra các vụ án hình sự thuộc thẩm quyền của TAQS. Nhìn chung, hệ thống các cơ quan điều tra trong thời kỳ này đã có sự phát triển và phối hợp hoạt động, bảo đảm tốt cho công tác điều tra, truy tố, phục vụ công tác xét xử của tòa án.
4. Hệ thống cơ quan tư pháp thời kì 1980 -1992
Chương IX Hiến pháp năm 1980 quy định về toà án nhân dân và viện kiểm sát nhân dân, trong đó Điều 127 quy định chung về chức năng, nhiệm vụ của tòa án nhân dân và viện kiểm sát nhân dân; đồng thời trong Hiến pháp có nhều quy định cụ thể hơn về chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của các cơ quan tư pháp và bổ sung thêm một số nguyên tắc, quy định quan trọng mới.
Đối với hệ thống tòa án nhân dân, về cơ bản hệ thống tòa án nhân dân thời kì này vẫn kế thừa và phát triển mô hình tổ chức của tòa án nhân dân giai đoạn trước. Tuy nhiên, đi sâu phân tích thì thấy có nhiều điểm mới, trong đó có những điểm cơ bản như sau:
- Về tổ chức, Toà án quân sự cấp cao trở thành bộ phận của TANDTC; tòa án nhân dân cấp tỉnh thành lập các toà chuyên trách (toà hình sự, toà dân sự); tòa án nhân dân cấp huyện được quy định thêm về thư kí toà án và chuyên viên pháp lí giúp việc; Cơ cấu tổ chức TAQS gồm: TAQS cấp cao, các TAQS quân khu và tương đương và các TAQS khu vực; các TAQS quân đoàn, quân chủng bị giải thể.
- Về thẩm quyền xét xử, tòa án nhân dân cấp huyện đã được mở rộng hơn thẩm quyền: Xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự mà theo quy định của BLHS, người phạm tội bị áp dụng hình phạt tù từ 7 năm tù trở xuống, trừ các tội xâm phạm an ninh quốc gia, các tội phạm nghiêm trọng, gây hậu quả lớn, các vụ án mà bị cáo phạm tội ở nước ngoài hoặc do tòa án nhân dân cấp trên lấy lên để xử; xét xử sơ thẩm các vụ án dân sự, lao động, hôn nhân và gia đình và những vụ án khác theo luật định, trừ những việc mà đương sự là người nước ngoài. TAQS đã chuyển từ hệ thống một cấp xét xử (sơ thẩm đồng thời chung thẩm - trước năm 1985) sang mô hình thẩm quyền xét xử đủ các trình tự như các tòa án nhân dân khác. - Nhiệm kỳ của Chánh án, Phó Chánh án, Thẩm phán Tòa án nhân dân các cấp được xác định theo nhiệm kỳ của cơ quan bầu các chức danh này.
- Đối với quản lý tổ chức của TAND địa phương và TAQS quân đội, khu vực giao cho Bộ trưởng Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với Chánh án TAND và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng thực hiện.
- Chính thức ghi nhận trong Hiến pháp một số quy định đã được xác lập trước đây như: Tổ chức luật sư được thành lập để trợ giúp pháp lý cho bị cáo và những người tham gia tố tụng khác (điều 133); bầu chọn bồi thẩm đoàn; nguyên tắc xét xử tập thể và quyết định theo đa số (điều 130, 132)...
Đối với hệ thống Viện kiểm sát nhân dân, về cơ bản, hệ thống Viện kiểm sát nhân dân giai đoạn này vẫn kế thừa và phát triển mô hình tổ chức của các Viện kiểm sát nhân dân giai đoạn trước. Tuy nhiên, có nhiều điểm mới như sau:
- Về tổ chức, Viện kiểm sát nhân dân Khu tự trị bị giải thể; Trong cơ cấu tổ chức của VKSNDTC cũng như của VKSND cấp tỉnh cũng có quy định về việc thành lập các phòng mới. Đội ngũ kiểm sát viên được quy định gồm ba ngạch: Kiểm sát viên cao cấp, kiểm sát viên trung cấp và kiểm sát viên sơ cấp.
- Về chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền của viện kiểm sát nhân dân được quy định rõ: Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật và thực hiện quyền công tố của viện kiểm sát nhân dân (Điều 138 Hiến pháp 1980); thẩm quyền của viện kiểm sát nhân dân được mở rộng hơn như thẩm quyền kiểm sát giam, giữ và cải tạo; thẩm quyền kiểm sát chấp hành án; một số thẩm quyền mới được quy định bổ sung như: Quyền yêu cầu các cơ quan thông báo cho VKS biết về việc vi phạm pháp luật và kết quả xử lí; quyền yêu cầu thanh tra cùng cấp thanh tra việc vi phạm pháp luật và thông báo cho VKS biết kết quả; quyền kiến nghị và kháng nghị đối với các cơ quan quản lí; quyền tham dự việc trù bị phiên toà, tham gia tố tụng tại phiên toà của tòa án nhân dân cùng cấp; quyền yêu cầu tòa án nhân dân cùng cấp chuyển hồ sơ những vụ án cần thiết để kiểm sát xét xử; quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm; quyền khởi tố hoặc yêu cầu khởi tố những vụ án dân sự quan trọng...
- Khẳng định rõ về quản lí tổ chức và hoạt động của hệ thống viện kiểm sát nhân dân: Các viện kiểm sát nhân dân tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung thống nhất lãnh đạo trong ngành, không lệ thuộc vào bất cứ cơ quan nào của Nhà nước ở địa phương; viện kiểm sát nhân dân do viện trưởng lãnh đạo (Điều 5 Luật tổ chức viện kiểm sát nhân dân năm 1981).
Đối với hệ thống cơ quan điều tra, trong thời kì này hệ thống cơ quan điều tra được tiếp tục củng cố và phát triển, bao gồm: Cơ quan điều tra của lực lượng cảnh sát nhân dân; cơ quan điều tra của lực lượng an ninh nhân dân; cơ quan điều tra trong quân đội; cơ quan điều tra của viện kiểm sát nhân dân. Ngoài ra, các cơ quan như bộ đội biên phòng, hải quan, kiểm lâm cũng được giao nhiệm vụ tổ chức điều tra những việc theo quy định tại Điều 93 của Bộ luật TTHS.
5. Hệ thống cơ quan tư pháp thời kì 1992 đến nay
Hệ thống cơ quan tư pháp nước ta thời kì 1992 đến nay tiếp tục được củng cố và hoàn thiện trên cơ sở kế thừa và phát triển những giá trị và yếu tố hợp lí của hệ thống cơ quan tư pháp các thời kì trước đồng thời có những cải biến quan trọng nhằm đáp ứng yêu cầu của tình hình mới, đặc biệt, sau khi có Hiến pháp năm 1992 sửa đổi tháng 12/2001. Có thể khái quát những điểm mới cơ bản như sau:
a) Đã hình thành hệ thống cơ quan thi hành án dân sự từ trung ương xuống địa phương, bao gồm: Cục quản lí thi hành án dân dự thuộc Bộ tư pháp (ở trung ương); các phòng thi hành án (ở cấp tỉnh) và các đội thi hành án (ở cấp huyện). Đây là điểm mới quan trọng trong quá trình củng cố và phát triển hệ thống cơ quan tư pháp nước ta trong thời kì này.
b) Có sự điều chỉnh đáng kể về chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền, tổ chức bộ máy và nguyên tắc tổ chức và hoạt động của hệ thống các cơ quan tư pháp:
- Đối với hệ thống tòa án nhân dân, đã thành lập một số toà chuyên trách mới (toà kinh tế, toà lao động, toà hành chính); đã bổ sung hai nguyên tắc mới trong hoạt động xét xử của tòa án nhân dân: Toà án có thể xét xử kín “để giữ bí mật cho các đương sự theo yêu cầu chính đáng của họ” (Điều 7 Luật tổ chức tòa án nhân dân sửa đổi năm 1993) và nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật của các chủ thể thuộc mọi thành phần kinh tế (Điều 8 Luật tổ chức tòa án nhân dân sửa đổi năm 1995); bỏ thẩm quyền xét xử sơ thẩm đồng thời chung thẩm của TANDTC; chế độ bổ nhiệm thẩm phán đã được áp dụng và thực hiện sự phân cấp: Chánh án tòa án nhân dân tối cao do Quốc hội bầu và miễn nhiệm; thẩm phán tòa án nhân dân tối cao do Chủ tịch nước bổ nhiệm, miễn nhiệm và cách chức; thẩm phán tòa án nhân dân địa phương do chánh án Tòa án nhân dân tối cao bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức theo đề nghị của hội đồng tuyển chọn thẩm phán; tòa án nhân dân tối cao quản lí các tòa án nhân dân địa phương về mặt tổ chức.. - Đối với hệ thống Viện kiểm sát nhân dân, chức năng của Viện kiểm sát nhân dân là thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp (không còn chức năng kiểm sát chung); đặt Viện kiểm sát nhân dân dưới sự giám sát chặt chẽ của Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp.
- Đối với hệ thống cơ quan điều tra, về cơ bản vẫn được củng cố, hoàn thiện trên cơ sở kế thừa và phát triển mô hình tổ chức và hoạt động của giai đoạn trước.
- Đối với cơ quan thi hành án dân sự, chính quyền địa phương được giao nhiệm vụ thực hiện một số hoạt động nhằm tăng cường công tác phối hợp chỉ đạo, nâng cao chất lượng công tác thi hành án dân sự.
Nếu xem xét sự hình thành và phát triển của hệ thống tư pháp nước ta trong hơn nửa thế kỷ qua, chúng ta thấy hệ thống tư pháp là một bộ phận quan trọng của bộ máy nhà nước. Quá trình hình thành và phát triển của hệ thống các cơ quan tư pháp ở nước ta gắn với từng thời kỳ của cách mạng Việt Nam, tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp vẫn mang đậm dấu ấn lịch sử của từng thời kỳ cụ thể. Hiện nay, khi sự nghiệp đổi mới ngày càng sâu rộng, sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đặt ra những thách thức. Nhiều vấn đề nổi lên, trong đó có cải cách tư pháp đòi hỏi phải tiếp tục có những nghiên cứu cơ bản, sâu sắc để làm cơ sở khoa học cho việc cải cách đó. Có nhiều cách tiếp cận khác nhau để thực hiện nhiệm vụ này và nghiên cứu, đánh giá từ góc độ lịch sử chắc chắn sẽ là một trong những hướng cần theo đuổi.
Nội dung bài viết:
Bình luận