Hành vi hăm dọa, đe dọa người khác có phạm tội không?

1. Thế nào là ức hiếp, bắt nạt người khác?  

Để làm rõ khái niệm bắt nạt và bắt nạt, chúng ta có thể quay lại những hành vi thường xảy ra trong  cuộc sống thực. 

Khi các cá nhân có mâu thuẫn với nhau, có nhiều trường hợp được hòa giải và thiện chí  giải quyết, nhưng cũng có  trường hợp  cá nhân không quản lý theo pháp luật mà  đe dọa người khác, có trường hợp  đe dọa người khác một cách vô lý. 

Vậy bắt nạt là gì, hành vi  nào bị coi là bắt nạt? Bắt nạt hoặc đe dọa có nghĩa là sử dụng lời nói hoặc hành động để đe dọa người khác,  buộc họ phải làm những việc nhất định vì lợi ích của họ hoặc đẩy nhanh công việc của họ. 

Nếu người này không thực hiện nghĩa vụ của mình thì sẽ phải gánh chịu những hậu quả nhất định. Bắt nạt nói chung là sự đe dọa về tinh thần và thể chất đối với người bị đe dọa, người thực hiện hành vi đe dọa sẽ đe dọa dưới nhiều hình thức khác nhau. Đe dọa có thể  gồm dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, đe dọa tố cáo, đe dọa hủy hoại tài sản... 

Các hình thức đe dọa mà người thực hiện hành vi đe dọa có thể  thực hiện là đe dọa trực tiếp, đe dọa qua thư, đe dọa qua điện thoại. .. Đối tượng  đe dọa có thể là đe dọa để đòi tài sản, đe dọa để thực hiện  hành vi trái pháp luật, đe dọa để tống tiền, đe dọa để  giao cấu với người khác... 

Đe doạ người khác

Đe doạ người khác

2. Hành vi đe dọa, uy hiếp tinh thần người khác bị xử lý hành chính như thế nào? 

 Như trên đã nói, không ai có quyền xâm hại thân thể, danh dự, nhân phẩm của người khác. 

Điều này có nghĩa là đe dọa  người khác là vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, tùy theo mức độ của hành vi đe dọa  mà người thực hiện hành vi đe dọa sẽ bị xử lý tương xứng với hành vi và hậu quả gây ra. Trong trường hợp hành vi đe dọa người khác chưa đến mức cấu thành tội phạm  thì có thể  bị xử phạt hành chính theo quy định tại Nghị định 167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh trật tự. và trật tự của xã hội; Phòng chống tệ nạn xã hội; phòng chống cháy nổ; phòng,  chống bạo lực gia đình.  

Theo đó, tại điểm a khoản 1 Điều 5 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; Phòng chống tệ nạn xã hội; phòng chống cháy nổ; phòng, chống và  chống bạo lực gia đình được quy định như sau:

“ 1 Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

  1. a) Có cử chỉ, lời nói thô bạo, khiêu khích, trêu ghẹo, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác;”

Như vậy, đối với các hành vi có tính chất thô bạo, đụng chạm đến thân thể người khác (ví dụ: xô đẩy, tát, nắm giật tóc…) hay có các lời nói bỡn cợt, xúc phạm danh dự nhân phẩm (trêu ghẹo, nhục mạ, có những lời nói vu khống, khiêu khích tinh thần của người khác, nói những lời sai sự thật, vu khống nhằm thực hiện mục đích xấu với người khác) thì sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính. Mức xử phạt đối với những hành vi vi phạm này là phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng.

Lưu ý: phân biệt  vi phạm hành chính và tội nhẹ: Căn cứ vào mức độ của hành vi để phân biệt hành vi đe dọa là  vi phạm hành chính hay tội phạm  theo quy định của BLHS 2015. Như đã đề cập, hành vi đe dọa  bị xử phạt vi phạm hành chính chỉ dừng lại ở  hành vi bằng cử chỉ , những lời nhận xét khiếm nhã, khiêu khích, trêu chọc, xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm của con người. Những người khác nếu chưa gây  hậu quả nghiêm trọng, chưa có  dấu hiệu  cấu thành tội phạm thì sẽ bị xử phạt  hành chính. Còn đối với  hành vi gây  hậu quả nghiêm trọng hoặc có tính chất  tội phạm thì sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật hình sự.  

3. Trách nhiệm hình sự đối với hành vi bắt nạt và đe dọa người khác: 

 Hành vi  đe dọa hoặc uy hiếp người khác nếu dẫn đến hậu quả cho người khác nếu  đủ  dấu hiệu tội phạm thì sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi uy hiếp, đe  dọa bị coi là tội phạm khi  hành vi này được coi là nguy hiểm cho xã hội. Khái niệm tội phạm được quy định tại Điều 8 BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.  Theo quy định tại Điều 8 BLHS 2015  khái niệm tội phạm được hiểu là hành vi gây nguy hiểm cho Công ty. quy định trong BLHS. Để hiểu rõ hơn, hành vi nguy hiểm cho xã hội  là  hành vi trái với quy định của pháp luật, khi thực hiện  hành vi này, người thực hiện  có thể gây nguy hại cho người khác và cho xã hội. Việc thực hiện hành vi nguy hiểm là yếu tố đầu tiên, nhưng để bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì  người thực hiện  hành vi này phải do người có năng lực  hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện. Các tội  quy định tất nhiên là do lỗi cố ý hoặc không cố ý tùy theo các tội phạm khác nhau. Những hành vi phạm tội ảnh hưởng đến các mối quan hệ này được pháp luật công nhận và bảo vệ, cụ thể: “xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa” (Điều 8 Bộ Luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017).

Như đã phân tích ở phần trên, những hành vi chưa có dấu hiệu của tội phạm  sẽ bị xử lý, còn những hành vi chưa gây nguy hiểm cho xã hội ở mức độ nhẹ thì không phải là tội phạm và bị người khác coi là trái pháp luật bằng các biện pháp (cảnh cáo, phạt tiền,…) . 

 Để xác định hành vi đe dọa người khác có phải là hành vi phạm tội hay không phải căn cứ vào  cấu thành tội phạm của hành vi, để xác định tội phạm  sẽ bao gồm khách thể của tội phạm, mặt khách quan, mặt chủ quan, khách thể của tội phạm. 

 Về hành vi đe dọa giết người, pháp luật nước ta có quy định tại Điều 133 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 về hành vi  đe dọa giết người.

“ 1 Người nào đe dọa giết người, nếu có căn cứ làm cho người bị đe dọa lo sợ rằng việc đe dọa này sẽ được thực hiện, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm

  1. a) Đối với 02 người trở lên;
  2. b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
  3. c) Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân;
  4. d) Đối với người dưới 16 tuổi;

đ) Để che giấu hoặc trốn tránh việc bị xử lý về một tội phạm khác.”

Theo quy định của điều luật trên, đe dọa giết người là hành vi nguy hiểm cho xã hội, do người có năng lực pháp luật (người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự) thực hiện, được thực hiện do lỗi cố ý và hành vi trái pháp luật. không xem xét  hậu quả có xảy ra hay không. 

- Về khách thể của tội đe dọa tính mạng: khách thể mà tội phạm  hướng đến là tính mạng của công dân.  

– Về mặt khách quan của tội đe dọa tính mạng: người  phạm tội đe dọa tính mạng của người khác, làm cho họ biết  và nhận thức được  tính mạng của mình có nguy cơ bị xâm phạm. 

- Về khách thể của tội đe dọa chết: người có năng lực trách nhiệm hình sự, tức là đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự.  

– Mặt chủ quan của tội đe dọa chết: Người thực hiện tội phạm  thực hiện tội phạm này với lỗi cố ý trực tiếp. 

Cụ thể, người này sử dụng các phương thức, thủ đoạn để thực hiện hành vi đe dọa như đe dọa bằng lời nói, hành động, sử dụng hung khí để đe dọa... 

 Khi thực hiện hành vi đe dọa giết người và đủ yếu tố cấu thành tội phạm, người thực hiện hành vi này sẽ bị phạt tù đến 03 năm cải tạo không giam giữ  hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm, nếu  có  tình tiết tăng nặng khác thì có thể bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm. Như vậy, hành vi đe dọa người khác là trái pháp luật, tùy theo mức độ của hành vi  sẽ bị xử lý hành chính hoặc chịu trách nhiệm hình sự. Nạn nhân khi bị người khác đe dọa, uy hiếp có thể tự bảo vệ mình bằng cách trình báo sự việc đến cơ quan công an địa phương để cơ quan công an điều tra, xử lý theo  pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích của mình và lợi ích hợp pháp của người dân.

 

 





Nội dung bài viết:

    Hãy để lại thông tin để được tư vấn

    comment-blank-solid Bình luận

    084.696.7979 19003330 Báo giá Chat Zalo