Hành vi đe doạ đánh người có bị xử lý theo pháp luật không?

1. Khái niệm tội đe dọa đánh người 

 BLHS hiện hành không có định nghĩa về tội đe dọa đánh người; thay vào đó là quy định về tội đe dọa chết được quy định tại Điều 133 BLHS 2015, sửa đổi 2017, được hiểu là hành vi uy hiếp tinh thần thông  báo trước bằng nhiều hình thức khác nhau sẽ  hoặc không  gây nguy hại cho họ hoặc những người thân yêu của họ nếu một số điều kiện không được đáp ứng. 

 Như vậy, dọa đánh người là hành vi uy hiếp tinh thần của người khác thông qua việc thông báo trước sẽ  tác động về thể chất của họ bằng những hành vi cụ thể như lời nói, hành động tác động đến người khác.  

2. Quy định pháp luật liên quan đến tội đe dọa 

 Hành vi này tương đối phức tạp vì trong những tình huống khác nhau sẽ cấu thành các tội  khác nhau như sau: 

2.1. Tội đe dọa chết (điều 133 BLHS 2015 sửa đổi 2017) 

 Một người đưa ra lời đe dọa giết người, nếu có lý do để lo sợ rằng lời đe dọa sẽ được thực hiện. Vì vậy, nếu ý định chủ quan của người thực hiện hành vi là mong muốn làm cho người khác sợ hãi, tin rằng người thực hiện hành vi đe dọa sẽ  hoặc sẽ không xâm hại đến mình thì đã cấu thành tội phạm đó. 

2.2. Tội xâm phạm hành chính về an ninh, trật tự, an toàn xã hội (Khoản a Khoản 3 Điều 7 Nghị định 144/2021/NĐ-CP) 

 Trong trường hợp người thực hiện hành vi đe dọa dùng vũ lực nhưng không có yếu tố lấy đi tính mạng của người khác (đe dọa, đánh đập, chửi bới…) thì không phải là không bị truy cứu trách nhiệm hình sự mà sẽ bị xử phạt hành chính. . 

2.3. Tội giết người trong giai đoạn chuẩn bị phạm tội (khoản 3 điều 123 BLHS 2015 sửa đổi 2017) 

 Người phạm tội đe dọa giết người  có chứng cứ, động cơ chứng minh  ý chí chủ quan của mình là nhằm tước đoạt tính mạng  của người khác (đã nghiên cứu, chuẩn bị công cụ, phương tiện hoặc tạo  điều kiện khác để phạm tội, cấu thành  hoặc đồng phạm). nhóm) sẽ bị xem xét trách nhiệm hình sự. 

2.4. Trường hợp có hành vi đe dọa nhưng không cấu thành tội phạm này 

 Đe dọa đánh  hoặc giết  sẽ không cấu thành tội đe dọa nếu người thực hiện hành vi nhằm  cấu thành tội phạm khác.  Ví dụ: A dọa giết B nếu không đưa hết tiền và hàng cho A. Mặc dù A dọa giết  nhưng  nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản của B; Do đó, hành vi của A đã cấu thành tội trộm cắp hoặc tội công nhiên chiếm đoạt tài sản.  

Hành vi đe doạ tính mạng người khác

Hành vi đe doạ tính mạng người khác

3. Xử phạt hành vi đe dọa người khác 

3.1. Xử phạt hành chính 

 Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi khiêu khích, trêu ghẹo, lăng mạ, xúc phạm, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 7 Nghị định. NĐ-CP. 

3.2. Xử lý hình sự 

3.2.1. Tội đe dọa chết (điều 133 BLHS 2015 sửa đổi 2017) 

 Phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm đối với hành vi đe dọa chết, nếu có căn cứ làm cho người bị đe dọa lo sợ thì có thể bị xử tử. 

 Phạt tù từ 02 năm đến 07 năm nếu  phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây: 

 Dành cho 02 người trở lên; 

 Lợi dụng chức vụ, quyền hạn; 

 Vì người  thi hành công vụ hoặc vì động cơ chính thức của nạn nhân; 

 Đối với trẻ em dưới 16 tuổi; 

 Để che giấu hoặc  tránh  bị truy tố về một tội phạm khác.  

3.2.2. Tội giết người trong giai đoạn chuẩn bị (khoản 3 điều 123 BLHS 2015 sửa đổi 2017) 

 Phạt tù từ 01 năm đến 05 năm nếu hành vi đe dọa giết người  có căn cứ chứng minh được ý định chủ quan của mình là tước đoạt tính mạng  của người khác.



Nội dung bài viết:

    Hãy để lại thông tin để được tư vấn

    comment-blank-solid Bình luận

    084.696.7979 19003330 Báo giá Chat Zalo