Giới hạn bảo hành là gì? Phạm vi bảo lãnh của ngân hàng? Mục đích của giao dịch bảo lãnh ngân hàng? Phân loại các phương thức bảo lãnh ngân hàng theo mục đích sử dụng? Hình thức và nội dung của giao dịch bảo lãnh ngân hàng?1. Giới hạn bảo hành là gì?
Hạn mức bảo lãnh là giới hạn của mức bảo lãnh tối đa đối với một khách hàng và tổng mức bảo lãnh tối đa so với vốn tự có mà tổ chức tín dụng được phép cấp. Hạn mức bảo lãnh chỉ áp dụng đối với tổ chức tín dụng trong việc cung cấp dịch vụ bảo lãnh cho khách hàng.2. Phạm vi bảo lãnh ngân hàng:
Phạm vi bảo lãnh được hiểu là giới hạn của nghĩa vụ tài chính mà bên bảo lãnh cam kết thực hiện thay cho khách hàng đối với chủ nợ. Do nghĩa vụ bảo lãnh là nghĩa vụ riêng và chỉ được thực hiện bằng tài sản của bên bảo lãnh nên mức độ bảo lãnh phải do bên bảo lãnh xác định và phải được thể hiện rõ trong văn bản bảo lãnh là điều kiện tất yếu.
So với các hoạt động kinh doanh khác, bảo lãnh ngân hàng thường được gia hạn, dẫn đến khả năng xảy ra rủi ro cao, ảnh hưởng xấu đến hoạt động kinh doanh của nền kinh tế. Do đó, pháp luật có những quy định chặt chẽ về mức độ và giới hạn của việc bảo hành. Về nguyên tắc, phạm vi nghĩa vụ bảo lãnh không thể rộng hơn phạm vi nghĩa vụ được bảo lãnh mà bên bảo lãnh có thể cam kết bảo lãnh toàn bộ hoặc một phần nghĩa vụ của khách hàng đối với bên thụ hưởng. Tại Điều 9 Thông tư 28/2012/TT-NHNN, các nghĩa vụ này có thể là:
“Phạm vi nghĩa vụ bảo hành
Bên bảo lãnh có thể cam kết bảo lãnh toàn bộ hoặc một phần nghĩa vụ sau đây của bên bảo lãnh, cụ thể:
1. Nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi và các chi phí khác của vốn vay.
2. Nghĩa vụ thanh toán tiền mua vật tư, hàng hóa, máy móc, thiết bị và các chi phí để thực hiện dự án, phương án đầu tư, sản xuất, kinh doanh, dịch vụ đời sống. 3. Nghĩa vụ nộp thuế, thuế tài nguyên và các nghĩa vụ tài chính khác đối với Nhà nước.
4. Nghĩa vụ khi tham gia đấu giá.
5. Nghĩa vụ thực hiện hợp đồng, đảm bảo chất lượng sản phẩm, nhận hàng và hoàn tiền trả góp.
6. Các nghĩa vụ pháp lý khác do các bên thỏa thuận. »
Luật cho phép tổ chức tín dụng toàn quyền quyết định mức bảo lãnh, tuy nhiên để bảo đảm an toàn, luật quy định hạn mức bảo lãnh mà tổ chức tín dụng được phép thực hiện với từng khách hàng. Cụ thể, tổng số dư ký quỹ của tổ chức tín dụng đối với một khách hàng không được vượt quá 15% vốn tự có của tổ chức tín dụng, tổng số dư ký quỹ của chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với một khách hàng không được vượt quá 15% vốn tự có của tổ chức tín dụng. do ngân hàng nước ngoài nắm giữ. Trường hợp tổng giá trị nghĩa vụ bảo lãnh thể hiện trong các cam kết bảo lãnh của tổ chức tín dụng đối với khách hàng vượt quá 15% vốn tự có của tổ chức tín dụng thì tổ chức tín dụng bảo lãnh phải yêu cầu khách hàng tra cứu tổ chức tín dụng khác làm tài sản thế chấp. Trong trường hợp này, các tổ chức tín dụng đồng bảo lãnh có thể thỏa thuận với nhau bằng văn bản về việc chia nghĩa vụ bảo lãnh thành các phần độc lập cho từng bên bảo lãnh và khi đó, nghĩa vụ bảo lãnh của từng tổ chức tín dụng được xác lập và không gắn liền với các khoản tín dụng đồng bảo đảm khác. thể chế. Trong trường hợp không có thỏa thuận này thì nghĩa vụ bảo lãnh của các tổ chức tín dụng đồng bảo lãnh sẽ bị ràng buộc, đồng thời bên bảo lãnh có quyền yêu cầu một trong các tổ chức tín dụng được đồng bảo lãnh thực hiện mọi nghĩa vụ đối với mình.
Luật cũng quy định về việc mở trong trường hợp đặc biệt, để thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội khi khả năng hợp vốn của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài chưa đáp ứng yêu cầu vay của một khách hàng, thì Thủ tướng Chính phủ có thể quyết định tối đa gia hạn tín dụng vượt quá mức đó. giới hạn quy định cho từng trường hợp cụ thể. Tuy nhiên, tổng mức cho vay vượt hạn mức không được vượt quá 4 lần vốn tự có của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Hạn mức 15% là hạn mức không thay đổi so với quy định cũ và cũng có nhiều ý kiến khác nhau về vấn đề này. Thực tế, nhiều ngân hàng đã đề nghị nâng hạn mức tín dụng với một khách hàng lên tối đa là 15-30% vốn tự có của TCTD.3. Chủ thể trong giao dịch bảo lãnh ngân hàng:
Nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng của tổ chức tín dụng vốn mang bản chất là hoạt động thương mại nên có cấu trúc pháp lý đặc biệt, là sự kết hợp giữa hai loại hợp đồng: hợp đồng bảo lãnh được kí kết giữa bên bảo lãnh với nên nhận bảo lãnh và hợp đồng dịch vụ bảo lãnh được kí kết giữa bên bảo lãnh với bên được bảo lãnh.
Trong một nghiệp vụ bảo lãnh thường có ít nhất ba thành phần sau:
– Bên bảo lãnh (the guarantor): là người phát hành lãnh (ngân hàng, tổ chức tín dụng khác…). Tuy nhiên, để trở có thể hoạt động nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng, các tổ chức tín dụng cần có những điều kiện sau:
“a) Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải được Ngân hàng Nhà nước cho phép kinh doanh, cung ứng dịch vụ ngoại hối trên thị trường quốc tế và thị trường trong nước, trong đó có hoạt động bảo lãnh bằng ngoại tệ;
b) Trong thời hạn 6 tháng liền kề trước thời điểm xem xét thực hiện bảo lãnh cho tổ chức là người không cư trú, tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài không bị xử phạt vi phạm hành chính các quy định về quản lý ngoại hối, quy định tại Điều 126,
Điều 127, Điều 128 và Điều 130 Luật các tổ chức tín dụng.
c) Có quy định nội bộ và quản trị rủi ro trong hoạt động bảo lãnh đối với người không cư trú;
d) Có phương án kiểm soát và xử lý rủi ro trong hoạt động bảo lãnh đối với người không cư trú;
đ) Không vi phạm quy định về việc báo cáo Ngân hàng Nhà nước khoản bảo lãnh đối với người không cư trú.”
– Bên được bảo lãnh (the principal): Là người yêu cầu bảo lãnh là các tổ chức, cá nhân. Tuy nhiên cũng có sự giới hạn đó là::
“a) Thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng thành viên, thành viên Ban kiểm soát, Tổng giám đốc (Giám đốc), Phó Tổng giám đốc (Phó giám đốc) và các chức danh tương đương của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, pháp nhân là cổ đông có người đại diện phần vốn góp là thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Ban kiểm soát của tổ chức tín dụng là công ty cổ phần, pháp nhân là thành viên góp vốn, chủ sở hữu của tổ chức tín dụng là công ty trách nhiệm hữu hạn;
b) Cha, mẹ, vợ, chồng, con của thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng thành viên, thành viên Ban kiểm soát, Tổng giám đốc (Giám đốc), Phó Tổng giám đốc (Phó giám đốc) và các chức danh tương đương.” (các trường hợp thuộc khoản 1 Điều 126 Luật các tổ chức tín dụng)”.
Đồng thời, theo đó, không phải bất kì cá nhân, tổ chức nào cũng được ngân hàng bảo lãnh mà cần đáp ứng được các điều kiện sau đây:
“1. Có đầy đủ năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật.
2. Nghĩa vụ bảo hành và giao dịch phát sinh từ nghĩa vụ bảo hành là hợp pháp.
3. Có khả năng thực hiện đúng và đầy đủ nghĩa vụ đối với các bên liên quan trong khuôn khổ quan hệ bảo lãnh. »
- Chủ nợ: Là người nhận cam kết bảo lãnh của ngân hàng. Là tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước, khi tham gia quan hệ bảo hành phải đáp ứng các điều kiện sau
Có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự. Đối với bên bảo lãnh là tổ chức thì tổ chức này phải có người đại diện theo pháp luật có đủ năng lực và thẩm quyền. Có tài liệu có giá trị hoặc chứng cứ khác chứng minh quyền của chủ nợ đối với nghĩa vụ được bảo đảm.4. Phân loại các phương thức bảo lãnh ngân hàng theo mục đích sử dụng:
Tùy theo mục đích sử dụng, bảo lãnh ngân hàng được chia thành 6 phương thức khác nhau:
- Bảo lãnh thực hiện hợp đồng:
Bảo lãnh thực hiện hợp đồng là việc ngân hàng cam kết bồi thường thiệt hại thay cho khách hàng nếu khách hàng không thực hiện đầy đủ hợp đồng như đã cam kết, gây thiệt hại cho bên thứ ba. Các hợp đồng bảo đảm như hợp đồng cung cấp hàng hóa, xây dựng, thiết kế, v.v.
Chủ đề: Trong trường hợp khách hàng vi phạm hợp đồng như cung cấp hàng không đúng thời hạn, không đúng chất lượng đã cam kết sẽ gây thiệt hại cho bên thứ ba. Còn bảo lãnh ngân hàng một mặt bù đắp một phần thiệt hại cho bên thứ ba (Bảo đảm cho anh ta tránh được những rủi ro) mặt khác khuyến khích khách hàng thực hiện đúng hợp đồng.
Giá trị bảo đảm: Tùy theo loại hình và quy mô hợp đồng mà giá trị bảo đảm thực hiện hợp đồng từ 10-15% tổng giá trị hợp đồng. Trường hợp đặc biệt có thể yêu cầu bảo lãnh thực hiện hợp đồng vượt quá 15% nhưng phải được người có thẩm quyền quyết định đầu tư chấp thuận. Tuy nhiên, số tiền bảo lãnh có thể giảm dần tùy thuộc vào việc thực hiện hợp đồng.
Thời hạn hiệu lực: Thư bảo lãnh có hiệu lực cho đến ngày hoàn thành hợp đồng. Thời hạn hiệu lực được xác định cụ thể theo thỏa thuận giữa hai bên. Thời gian bắt đầu từ ngày đóng thầu và kéo dài cho đến khi hoàn thành hợp đồng như: hàng hóa đã được giao, máy móc thiết bị đã được sử dụng, công trình đã được đưa vào sử dụng...
- Bảo lãnh thanh toán:
Bảo lãnh thanh toán là cam kết của ngân hàng sẽ giải tỏa tiền theo hợp đồng thanh toán cho người thụ hưởng nếu khách hàng không thanh toán đủ.
Mục đích: Cung cấp cho Người thụ hưởng sự đảm bảo rằng họ sẽ có thể nhận được khoản thanh toán thuận lợi, đầy đủ và đúng hạn, đối với hàng hóa hoặc dịch vụ được cung cấp cho Người bảo lãnh.
Giá trị bảo lãnh: Giá trị bảo lãnh thường bằng 100% giá trị hợp đồng.
Thời hạn hiệu lực: Do các bên thoả thuận.
Bảo lãnh hoàn trả khoản vay (Đảm bảo cho vay):
Cam kết của ngân hàng với bên cho vay (tổ chức tín dụng, cá nhân,…) về việc trả gốc và lãi đúng hạn trong trường hợp khách hàng (người đi vay) không trả được nợ. Việc bảo lãnh này thường rất phức tạp, số tiền bảo lãnh lớn nên rủi ro của ngân hàng trong trường hợp người đi vay không trả được nợ cũng lớn. Vì vậy, ngân hàng phải xem xét kỹ lưỡng tính khả thi của dự án, phương thức bảo lãnh… trước khi phát hành thư bảo lãnh.
Giá trị bảo lãnh: Tùy theo thỏa thuận mà có thể chỉ bao gồm tiền gốc hoặc tiền lãi và chi phí nhưng phải ghi rõ tiền lãi và chi phí đã thỏa thuận chưa được tính hay còn phải tính.
Thời hạn hiệu lực: Thời hạn trả nợ tín dụng đã thỏa thuận, tốt nhất là khoảng 10 ngày kể từ ngày đến hạn của khoản nợ. - Bảo lãnh đấu giá:
Khái niệm: Là cam kết của ngân hàng với chủ đầu tư (hoặc nhà thầu) sẽ nộp phạt thay cho nhà thầu nếu nhà thầu vi phạm các điều khoản của hợp đồng đấu thầu.
Mục đích: Để đảm bảo rằng các nhà thầu không rút lại, ký hợp đồng hoặc thay đổi ý định đã được trao hợp đồng. Nếu nhà thầu trúng thầu nhưng không ký hợp đồng thì nhà thầu (người thụ hưởng) sẽ rút dần tiền bảo lãnh thanh toán để trang trải chi phí dự thầu, thiệt hại do chậm tiến độ công trình hoặc chi phí tổ chức. cuộc gọi thầu sắp xếp lại một cuộc gọi đấu thầu khác.
Giá trị tài sản bảo đảm: thường có giá trị từ 1-5% giá trị hợp đồng thầu.
Thời hạn hiệu lực: Thời hạn hiệu lực của bảo lãnh chỉ kết thúc khi bên bảo lãnh (bên dự thầu) không trúng thầu hoặc sau khi ký kết hợp đồng hoặc đồng ý ký kết hợp đồng nếu bên được bảo lãnh trúng thầu. – Cam kết đảm bảo hoàn trả tiền đặt cọc:
Khái niệm: là việc ngân hàng cam kết hoàn trả số tiền ứng trước cho người mua (người thụ hưởng bảo lãnh) nếu nhà cung cấp (người nhận bảo lãnh) không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ.
Mục đích: Đảm bảo bên yêu cầu bảo đảm sẽ nhận được số tiền đã đặt cọc trước đó để bên nhận bảo đảm giúp thực hiện hợp đồng theo thỏa thuận, nhưng trên thực tế điều này không thể thực hiện được. Bảo đảm tiền mặt thường được sử dụng trong các hợp đồng mua bán máy móc thiết bị hoặc các hợp đồng có giá trị lớn.
Giá trị bảo lãnh: Số tiền bảo lãnh bằng số tiền ký quỹ (bao gồm cả lãi) tính từ ngày nhận tiền ký quỹ cho đến ngày giao hàng cuối cùng tăng thêm một số ngày mà người nhận phải xử lý yêu cầu chuyển tiền. . Loại bảo lãnh này cũng có một số điều khoản làm giảm giá trị của bảo lãnh tương ứng với số lượng hàng hóa được giao đối với hàng hóa sản xuất, máy móc, công trình xây dựng… thì tiền ký quỹ thường từ 5 đến 10% giá trị hợp đồng. – Thời hạn hiệu lực: bằng thời hạn thực hiện hợp đồng, nghĩa là từ thời điểm bên bảo lãnh nhận được số tiền đặt cọc cho đến ngày giao hàng cuối cùng, có thể kéo dài thêm một số ngày để làm thủ tục thu hồi do hai bên quy định.
– Bảo hành hoặc đảm bảo chất lượng sản phẩm theo hợp đồng:
Loại bảo lãnh mà ngân hàng bảo lãnh cam kết với doanh nhân trong trường hợp doanh nhân vi phạm hợp đồng về chất lượng sản phẩm và phải bồi thường cho doanh nhân nhưng doanh nhân không bồi thường hoặc bồi thường không đầy đủ thì ngân hàng bảo lãnh chịu trách nhiệm bồi thường thay mặt nhà thầu.
Mục đích: Loại hình bảo lãnh này được áp dụng chủ yếu trong các hợp đồng xây lắp và cung cấp thiết bị đồng bộ để bảo hành các thiết bị máy móc...
Trong thời gian bảo hành này, nếu sản phẩm có vấn đề dẫn đến chất lượng sản phẩm không được đảm bảo, bên bảo lãnh có quyền yêu cầu ngân hàng bảo lãnh bồi thường.
Giá trị tài sản đảm bảo: Tùy theo thỏa thuận, thường bằng 5-10% giá trị hợp đồng.
Thời hạn hiệu lực: Kể từ khi bắt đầu lắp ráp và sử dụng thiết bị cho đến khi hết thời gian bảo hành của thiết bị. - Đảm bảo miễn giảm giá trị hóa đơn:
Cam kết của ngân hàng với bên mua về việc thanh toán số tiền được khấu trừ vào giá trị hợp đồng trong trường hợp bên bán vi phạm hợp đồng.
Mục đích: Một số hợp đồng mua bán thường quy định điều khoản cho phép bên mua giữ lại một phần giá trị của hợp đồng. Khoản thanh toán cuối cùng của số tiền này sẽ được thực hiện sau khi nhà cung cấp đã hoàn thành nghĩa vụ của mình và sẽ được người mua chấp nhận. Số tiền giữ lại này có thể được thay thế bằng bảo lãnh ngân hàng để không ảnh hưởng đến nguồn tài chính của bên bán. Như vậy, bảo đảm không có giá trị hợp đồng cho phép người bán nhận được tổng số tiền thanh toán nhưng phải cam kết với người mua rằng số tiền bảo lãnh sẽ được trả lại cho anh ta trong trường hợp người bán không thực hiện nghĩa vụ của mình hoặc vi phạm các điều khoản của hợp đồng. Giá trị tài sản thế chấp: Thông thường từ 5-10% giá trị hợp đồng.
Thời hạn hiệu lực: Do hai bên thoả thuận.5. Hình thức và nội dung giao dịch bảo lãnh ngân hàng:
Bảo lãnh ngân hàng là một hoạt động nghiệp vụ của các tổ chức tín dụng, là một dịch vụ thiết yếu trong hoạt động của các tổ chức tín dụng. Mặc dù là hoạt động có rủi ro cao nhưng bảo lãnh ngân hàng có tác động đáng kể đến nền kinh tế nói chung và các tổ chức tín dụng nói riêng. Để hoạt động bảo lãnh ngân hàng phát huy hiệu quả, pháp luật có những quy định về phạm vi, hình thức và nội dung của loại giao dịch này.
1. Phạm vi bảo lãnh ngân hàng của tổ chức tín dụng
Về nguyên tắc, tổ chức tín dụng có quyền một mình quyết định việc bảo đảm toàn bộ hoặc một phần nghĩa vụ của khách hàng đối với chủ nợ. Những nghĩa vụ này bao gồm:
1. Nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi và các chi phí khác của vốn vay. 2. Nghĩa vụ thanh toán tiền mua vật tư, hàng hóa, máy móc, thiết bị và các chi phí cho khách hàng để thực hiện dự án hoặc phương án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh, dịch vụ đời sống.
3. Nghĩa vụ nộp thuế và các nghĩa vụ tài chính khác đối với Nhà nước
4. Nghĩa vụ của khách hàng khi tham gia đấu giá
5. Nghĩa vụ của khách hàng khi giao kết hợp đồng với bên bảo lãnh như việc thực hiện hợp đồng, bảo đảm về chất lượng sản phẩm, nhận và hoàn trả tiền đặt cọc.
6. Các nghĩa vụ khác do các bên thoả thuận không vi phạm điều cấm của luật.
Tuy nhiên, theo quy định của pháp luật hiện hành, tổng số dư bảo lãnh của tổ chức tín dụng đối với cùng một khách hàng không được vượt quá 15% vốn tự có của tổ chức tín dụng. Điều này nhằm đảm bảo an toàn cho tổ chức tín dụng.2. Hình thức và nội dung giao dịch bảo lãnh ngân hàng
* Về hình thức
Pháp luật quy định việc bảo lãnh của tổ chức tín dụng đối với khách hàng phải được lập thành văn bản, bao gồm các hình thức: hợp đồng bảo lãnh, thư bảo lãnh và các hình thức khác mà pháp luật không cấm theo thông lệ quốc tế. Các giấy tờ này có thể phải được công chứng, chứng thực nếu các bên đồng ý hoặc pháp luật yêu cầu.
* Về nội dung
Nội dung của Hợp đồng dịch vụ bảo hành và Hợp đồng cam kết bảo hành phải đầy đủ, rõ ràng và thường có các nội dung chính sau:
1. Tên, địa chỉ của tổ chức tín dụng, khách hàng, người thụ hưởng bảo lãnh. 2. Ngày phát hành bảo lãnh và số tiền bảo lãnh.
3. Hình thức và điều kiện thực hiện nghĩa vụ bảo hành
4. Thời hạn bảo hành. 5. Ngoài nội dung trên. Cam kết bảo hành có thể có các nội dung khác về quyền và nghĩa vụ của các bên, giải quyết tranh chấp phát sinh, phân định quyền và nghĩa vụ của các bên và các thỏa thuận khác.
Nội dung bài viết:

Bình luận