giữ giấy tờ trái phép
1. Giữ giấy tờ của người khác bị phạt như thế nào?
Hiện nay, tùy theo tính chất mức độ có thể bị xử phạt theo Nghị định 167/2013/NĐ-CP:
“Điều 9. Vi phạm quy định về quản lý, sử dụng chứng minh nhân dân
- Cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
a)Không xuất trình Giấy chứng minh nhân dân khi người có thẩm quyền yêu cầu;
b)Thực hiện không đúng các quy định của pháp luật về cấp, cấp lại, đổi chứng minh nhân dân;
c)Không thực hiện quy định của pháp luật về thu hồi, tạm giữ Chứng minh nhân dân khi có yêu cầu của người có thẩm quyền.
- Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:
a)Sử dụng chứng minh nhân dân của người khác để thực hiện hành vi trái pháp luật;
b)Tẩy xóa, sửa chữa chứng minh nhân dân của người;
c)Cho người thứ ba thuê, mượn, mượn chứng minh nhân dân để thực hiện hành vi trái quy định của pháp luật.
- Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:
a)Khai man, làm sai lệch hồ sơ, cung cấp thông tin, tài liệu sai sự thật để được cấp chứng minh nhân dân;
b)Làm giả chứng minh nhân dân;
c)Sử dụng chứng minh nhân dân giả. [...]".
2. Nếu CMND bị người khác thu giữ thì sao?
Chứng minh nhân dân phổ thông là giấy tờ tùy thân của công dân do cơ quan có thẩm quyền cấp. Hiện tại, CMND của bạn đã bị người khác chiếm giữ. Tuy nhiên, theo công văn 141/TANDTC-KHXH, tòa án không thụ lý, giải quyết yêu cầu đòi lại Chứng minh nhân dân. Để lấy lại chứng minh nhân dân, bạn có thể yêu cầu cơ quan công an buộc người đang giữ chứng minh nhân dân trả lại cho bạn.
“…2. Theo quy định trên, Giấy chứng nhận quyền sở hữu đất đai (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở; Giấy đăng ký mô tô, xe máy; Giấy đăng ký xe ô tô;…) n không phải là “giấy tờ có giá” được quy định tại Điều 163 BLDS 2005 ; do đó, nếu có yêu cầu Tòa án giải quyết và buộc bên chiếm giữ trả lại các giấy tờ này thì Tòa án không thụ lý giải quyết.
- Trường hợp đương sự chỉ yêu cầu cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản do người khác đứng tên (giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở; giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy; giấy đăng ký xe… ), Tòa án phán quyết như sau:
a)Nếu vụ án chưa được thụ lý thì Tòa án áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 168 của Bộ luật tố tụng dân sự trả lại đơn yêu cầu khởi kiện cho nguyên đơn. Trong văn bản trả lại đơn khởi kiện, Tòa án phải ghi rõ lý do trả lại đơn khởi kiện là yêu cầu khởi kiện không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
b)Trường hợp đã thụ lý vụ án thì Tòa án căn cứ vào khoản 2 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, xóa tên vụ án đó trong sổ thụ lý; trả lại đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo cho đương sự; căn cứ khoản 3 Điều 193 Bộ luật tố tụng dân sự ra quyết định trả lại tiền tạm ứng án phí cho đương sự.
c)Khi trả lại đơn khởi kiện hoặc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự nêu trên, Tòa án phải hướng dẫn cho người khởi kiện có thể yêu cầu cơ quan chức năng giải quyết theo thẩm quyền buộc người chiếm giữ bất hợp pháp giấy tờ nêu trên phải trả lại cho chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp đối với loại giấy tờ đó. Trong trường hợp giấy tờ bị mất thì chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp đối với loại giấy tờ nêu trên có quyền đề nghị cơ quan chức năng có thẩm quyền cấp lại giấy tờ bị mất theo quy định của pháp luật (ví dụ: yêu cầu cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở bị mất theo quy định tại Điều 24 Nghị định số 88/2009/NĐ-CP ngày 19/10/2009 của Chính phủ “về cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất”). Bên có lỗi trong việc làm mất giấy tờ phải chịu toàn bộ chi phí, lệ phí trong việc cấp lại giấy tờ mới. Tòa án nhân dân tối cao yêu cầu các Chánh án Tòa án nhân dân huyện, thành phố, thị xã thuộc tỉnh và Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương sau khi nhận được công văn này tổ chức quán triệt, triển khai thực hiện''.
Nội dung bài viết:
Bình luận