Phương pháp giáo dục tiếp cận năng lực không phải là mới nhưng đang trở thành mô hình phổ biến ở nhiều nước phát triển. Sở Giáo dục và Đào tạo đang xây dựng chương trình đào tạo kỹ năng tổng hợp. Bởi vậy cách làm này có ưu điểm gì và có đáp án là mục tiêu đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam như Nghị quyết 29 Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã nêu không?

1. Nguồn gốc của giáo dục dựa trên năng lực
Giáo dục dựa trên năng lực xuất hiện đầu tiên ở Mỹ. Đạo luật Nông nghiệp Đất đai Morrill năm 1862 đã tạo ra cơ sở ban đầu cho khái niệm giáo dục ứng dụng dựa trên nhu cầu của nông dân và nông dân không có điều kiện học tập tại các trường đại học và cao đẳng danh tiếng của Đông Của tôi. Khi cuộc Cách mạng Công nghiệp bùng nổ, quá trình cơ giới hóa sản xuất nông nghiệp đã dẫn đến việc xây dựng các trường cao đẳng nông nghiệp ở nông thôn, tạo cơ hội đào tạo nghề nghiệp cho những người nông dân tương lai, hỗ trợ điều hành và quản lý sản xuất nông nghiệp quy mô lớn ở Hoa Kỳ. Chương trình nhấn mạnh vào việc đào tạo hơn là dạy và học truyền thống. Mục tiêu là để đánh giá khả năng của sinh viên trong công việc áp dụng kiến thức nhận thức được vào các vấn đề công việc thực tế. Mô hình giáo dục này nở rộ vào những năm 1970 tại Mỹ và sau đó lan rộng ra các quốc gia khác. Tuy nhiên, mô hình này lúc đầu chủ yếu được áp dụng trong lĩnh vực dạy nghề. Trong những thập kỷ gần đây, các hệ thống giáo dục tiến bộ đã áp dụng mô hình này nói chung và giáo dục đại học.
2. Năng lực là gì?
Theo nghĩa thông thường, năng lực là sự kết hợp của những suy nghĩ, kỹ năng và thái độ sẵn có hoặc có tiềm năng học hỏi được của một cá nhân hoặc một tổ chức. Các nhà tâm lý học cho rằng, kỹ năng là sự tổng hợp các thuộc tính tâm lý của cá nhân phù hợp với yêu cầu cụ thể của một hoạt động nhất định nhằm đảm bảo chắc chắn cho hoạt động đó đạt hiệu quả cao. Năng lực có thể hiểu là tổng hợp các khả năng, kỹ năng, phẩm chất, thái độ và hành vi của một cá nhân hoặc một nhóm để thực hiện công việc một cách hiệu quả. Giáo dục dựa trên năng lực được xây dựng trên nhiều lý thuyết khác nhau, chẳng hạn như các nhà hành vi, các nhà chức năng hay các nhà nhân văn. Đó là sự kết hợp giữa giáo dục khai phóng và giáo dục chuyên nghiệp.
3. Giáo dục dựa trên năng lực là gì?
Gervais (2016) đã đưa ra định nghĩa về giáo dục dựa trên năng lực như sau: “Giáo dục dựa trên năng lực được định nghĩa là một cách tiếp cận học tập dựa trên kết quả đầu ra), là sự kết hợp giữa các phương pháp pháp dạy học và đánh giá d' được thiết kế để đánh giá việc học tập của học sinh thông qua biểu hiện về kiến thức, thái độ, giá trị, kỹ năng và hành vi của họ đối với học sinh, với các request has been verify at each level'. Harris và cộng sự (1995) cho rằng giáo dục dựa trên năng lực phát huy tối đa năng lực cá nhân của mỗi học sinh, giúp học sinh khám phá bản thân, khám phá tri thức dựa trên hứng thú và sở thích của bản thân , giúp học sinh nắm giữ công thức kiến trúc và vận tải ứng dụng chúng vào thực tiễn cuộc sống. Giáo dục dựa trên năng lực thúc đẩy tư duy sáng tạo, tư duy phản biện và giải quyết vấn đề.
4. Các yếu tố của giáo dục dựa trên năng lực là gì?
Mô hình giáo dục dựa trên năng lực chú trọng đến kết quả của người học. Người học được coi là hoàn thành tốt một môn học, chương trình, khóa học hoặc cấp độ khi thể hiện được sự hiểu biết và ứng dụng kiến thức, kỹ năng, thái độ, giá trị và hành vi dựa trên tiêu chuẩn type. Tuy nhiên, cần phải phân biệt rõ kết quả của giáo dục theo năng lực khác với giáo dục theo nội dung. Kết quả của giáo dục dựa trên năng lực được thể hiện ở thì hiện tại, tức là về những gì người học có thể làm được ngay sau khi hoàn thành chương trình học. Trong khi đó, giáo dục theo nội dung chỉ ra tương lai, tức là khả năng người học có thể làm được trong tương lai. Nó nhấn mạnh khả năng thực tế của học sinh hơn là khả năng mong đợi trong tương lai. Điều đó cũng thừa nhận khả năng học tập và trình độ nhận thức của mỗi học sinh là khác nhau,
5. Dạy và học theo năng lực diễn ra như thế nào?
Trọng giáo dục cận năng lực, giáo viên đóng vai trò định hướng, thiết kế nội dung dạy dỗ, còn học sinh phải tự xây dựng kiến thức, hiểu biết của mình thông qua khả năng khám phá, khám phá, sáng tạo tạo, thử nghiệm và quan sát. Do đó, môi trường giáo dục cũng phải được tạo ra tương thích để phát huy và giúp học sinh tiếp nhận tiềm năng của mình. Việc tổ chức dạy học cần linh hoạt, đa dạng, thay vì dạy học truyền thống dạy trò, nên dạy học cận kề năng lực, có thể tổ chức dạy học theo nhóm, học cá nhân, học tự định hướng , học sinh học theo hứng thú của bản thân và những trăn trở… Dạy học theo năng lực khuyến khích ứng dụng công nghệ và công cụ giáo dục Phát triển khả năng tối ưu của người học. Cách tiếp cận nội dung nhấn mạnh vai trò của phương pháp dạy học, in when going to close the power chú trọng đến yếu tố phong cách học và tự học của người học. Học sinh cảng Hải Phòng trong ngày khai trường. Ảnh: Giang Chính. Học sinh cảng Hải Phòng trong ngày khai trường. Ảnh: Giang Chính.
6. Đánh giá trong giáo dục dựa trên năng lực
Theo Gervais (2016), đánh giá trong chương trình đào tạo dựa trên năng lực đóng vai trò quan trọng. Việc đánh giá sẽ cung cấp cho học sinh mức độ kiến thức, kỹ năng đạt được cũng như khả năng giảng dạy của giáo viên, từ đó xác định nhu cầu của người học và có những điều chỉnh, bổ sung phù hợp. Việc đánh giá phải dựa trên mức độ đạt được của học sinh, không phải là sự so sánh giữa học sinh này với học sinh khác. Do đó, sẽ không có chấm điểm trong mô hình giáo dục dựa trên năng lực mà chỉ đánh giá theo kết quả học tập của học sinh. Đánh giá học sinh trong giáo dục dựa trên năng lực phục vụ nhiều mục đích, không chỉ để khen thưởng hay lên lớp. Việc đánh giá từng học sinh trước và sau chương trình giúp giáo viên hiểu được nhu cầu và trình độ năng lực của học sinh. Nó sẽ chỉ ra nhu cầu học tập và khả năng học tập cụ thể của học sinh, từ đó có thể xác định học sinh cần hỗ trợ gì, và học sinh phải đầu tư bao nhiêu thời gian để đạt được tiêu chí năng lực. Có hai loại đánh giá để đo lường quá trình học tập của học sinh trong giáo dục dựa trên năng lực: đánh giá quá trình và đánh giá tổng kết. Đánh giá quá trình giúp học sinh đo lường quá trình học tập hàng ngày của mình và xác định những nội dung quan trọng mà họ cần học và thực hành nhiều hơn. Đánh giá kết quả là đánh giá cuối khóa học về chương trình hoặc trình độ của học sinh để giúp xác định khả năng của học sinh để tiến tới trình độ thông thạo tiếp theo hoặc tốt nghiệp. Đánh giá thành tích cũng giúp giáo viên xác định khoảng cách giữa học tập và thành tích của học sinh, thực hiện những thay đổi cần thiết đối với chương trình giảng dạy.
7. Chương trình giáo dục dựa trên năng lực
Chương trình giáo dục phát triển năng lực thường được thiết kế linh hoạt theo hướng mở để có thể bổ sung, cập nhật kịp thời các nội dung mới. Nội dung chương trình thường được thiết kế theo học phần hoặc tín chỉ. Sách giáo khoa chỉ dùng làm tài liệu tham khảo cho giảng dạy, không phải là giáo trình theo cách tiếp cận nội dung. Chương trình phải đảm bảo sự phát triển cả bề rộng và chiều sâu, sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các môn học nhằm hình thành ở học sinh các chuẩn kiến thức, kỹ năng, giá trị, hành vi và thái độ cần thiết. Johnstone và Soares (2014) cho rằng việc triển khai mô hình dạy kỹ năng thành công đòi hỏi phải nghiên cứu và suy ngẫm sâu rộng, cũng như xem xét lại hệ thống quản lý, nội dung, chương trình và phương pháp giáo dục ở tất cả các cấp, từ trung ương đến địa phương. Khi các kỹ năng được hình thành để phát triển, cơ sở giáo dục địa phương cần chuyển chúng thành các chủ đề và nội dung dạy học phù hợp, giúp hình thành và hiện thực hóa các kỹ năng này ở học sinh. Việc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông theo hướng tiếp cận phát triển kỹ năng là một định hướng tốt, không chỉ đáp ứng nhu cầu của người học thế kỷ 21 mà còn chuẩn bị nguồn nhân lực có chất lượng cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và nền kinh tế. hội nhập.
Phương pháp giáo dục tiếp cận năng lực mặc dù không mới nhưng đang trở thành mô hình giáo dục phổ biến ở nhiều nước phát triển. Nhưng việc áp dụng mô hình này vào bối cảnh giáo dục Việt Nam cần có nghiên cứu, đánh giá và suy nghĩ quan trọng vì sự khác biệt về bối cảnh văn hóa, kinh tế, xã hội và giáo dục có thể là những trở ngại lớn cho quá trình phát triển khai báo.
Nội dung bài viết:
Bình luận