
Hướng dẫn giải quyết quyền lợi bảo hiểm
1. Quyền lợi có thể được bảo hiểm trong bảo hiểm nhân thọ là gì?
Theo quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật KDBH năm 2000, sửa đổi năm 2010 (Luật KDBH) thì quyền lợi được bảo hiểm là: “quyền sở hữu, quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền tài sản; quyền, nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng đối với đối tượng được bảo hiểm”. Theo đó, xét dưới góc độ BHNT thì quyền lợi bảo hiểm trong BHNT là “quyền, nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng đối với đối tượng được bảo hiểm”.
Căn cứ theo khoản 24 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì “Cấp dưỡng là việc một người có nghĩa vụ đóng góp tiền hoặc tài sản khác để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người không sống chung với mình mà có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng trong trường hợp người đó là người chưa thành niên, người đã thành niên mà không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình hoặc người gặp khó khăn, túng thiếu theo quy định của pháp luật”.
Nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng là nội dung quan trọng của pháp luật hôn nhân và gia đình: nghĩa vụ nuôi dưỡng được xác lập giữa cha mẹ (cả cha mẹ ruột, cha mẹ nuôi, cha dượng, mẹ kế) với con cái (cả con ruột, con nuôi, con riêng của vợ hoặc con riêng của chồng) và ngược lại, giữa ông bà đối với cháu và ngược lại, giữa cô, dì, chú, bác ruột với cháu[2]. Ngoài nghĩa vụ được pháp luật hôn nhân và gia đình xác lập, không còn tồn tại bất kỳ quy định pháp luật nào khác về quyền và/hoặc nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng. Do đó, căn cứ để xác lập quyền và/hoặc nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng là quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình. Cách hiểu này là rất hẹp so với thực tiễn. Bởi vì, ngoài mối quan hệ nuôi dưỡng, cấp dưỡng được xác lập theo quan hệ hôn nhân, huyết thống thì còn tồn tại các mối quan hệ nuôi dưỡng, cấp dưỡng khác như: quan hệ cấp dưỡng giữa vợ và chồng sau khi ly hôn, quan hệ cấp dưỡng của người phạm tội đối với những người mà người bị hại phải nuôi dưỡng nếu người bị hại còn sống…
Theo quy định của khoản 3 Điều 9 Luật KDBH, nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng phải gắn với đối tượng được bảo hiểm. Khoản 1 Điều 31 Luật KDBH quy định: “Đối tượng của hợp đồng bảo hiểm con người là tuổi thọ, tính mạng, sức khoẻ và tai nạn con người”. Như vậy, có thể hiểu, quyền lợi bảo hiểm trong BHNT là quyền hoặc nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng của bên mua bảo hiểm đối với người được bảo hiểm phát sinh liên quan đến tuổi thọ, sức khỏe hoặc tính mạng của người được bảo hiểm. Pháp luật KDBH Việt Nam không bảo hiểm cho những yêu tố khác thuộc về con người như nghề nghiệp, bộ phận cơ thể người,… Ví dụ, pháp luật bảo hiểm Việt Nam không cho phép một cá nhân mua bảo hiểm cho giọng hát của nghề ca sĩ, hoặc đôi chân của cầu thủ bóng đá. Người mua bảo hiểm chỉ có thể mua bảo hiểm cho cầu thủ bóng đá với sản phẩm bảo hiểm sức khỏe, sinh kỳ hoặc tử kỳ. Theo đó, cầu thủ bóng đá chỉ được bảo hiểm cho tổn thất về sức khỏe khi bị gãy chân chứ không được bảo hiểm cho tổn thất về thu nhập, chi trả tài chính cho cuộc sống khi phải giải nghệ vì gãy chân.
Từ những phân tích nêu trên có thể đưa ra khái niệm quyền lợi có thể được bảo hiểm trong BHNT như sau: Quyền lợi có thể được bảo hiểm trong BHNT là quyền và/hoặc nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng giữa/của người mua bảo hiểm với người được bảo hiểm gắn liền về tính mạng, tuổi thọ, sức khỏe và tai nạn con người.
2. Hướng dẫn giải quyết quyền lợi bảo hiểm
Quyền lợi bảo hiểm nằm viện, phẫu thuật hoặc tàn tật do tai nạn:
Quyền lợi bảo hiểm nằm viện, chứng từ cần nộp:
- Phiếu yêu cầu giải quyết quyền lợi bảo hiểm,
- Giấy ủy quyền thu thập thông tin,
- Giấy ra viện (Bản gốc hoặc bản sao có chứng thực của cơ quan có thẩm quyền), và
- Bản sao Thẻ Bảo Hiểm Y Tế, giấy chuyển viện (nếu có).
Quyền lợi bảo hiểm phẫu thuật:
- Phiếu yêu cầu giải quyết quyền lợi bảo hiểm,
- Giấy ủy quyền thu thập thông tin,
- Giấy chứng nhận phẫu thuật, và
- Hóa đơn viện phí.
Quyền lợi bảo hiểm tàn tật do tai nạn:
- Phiếu yêu cầu giải quyết quyền lợi bảo hiểm,
- Giấy ủy quyền thu thập thông tin,
- Giấy ra viện (Bản gốc hoặc bản sao có chứng thực của cơ quan có thẩm quyền), và
- Giấy chứng nhận phẫu thuật (nếu có phẫu thuật).
Quyền lợi bảo hiểm chăm sóc sức khỏe, chứng từ cần nộp:
- Phiếu yêu cầu giải quyết Quyền lợi bảo hiểm Chăm sóc sức khỏe (ngoại trú, nội trú và nha khoa),
- Giấy ủy quyền thu thập thông tin,
- Bản gốc hóa đơn tài chính,
- Bản sao sổ khám bệnh, kết quả xét nghiệm, toa thuốc liên quan đến việc khám và điều trị, và
- Các chứng từ khác theo quy định tại Quy tắc điều khoản sản phẩm.
3. Đề xuất sửa đổi và hoàn thiện cơ sở pháp lý xác định quyền lợi có thể được bảo hiểm trong bảo hiểm nhân thọ
Thứ nhất, xác định quyền lợi về tinh thần. Theo đó, người mua bảo hiểm đương nhiên có quyền lợi bảo hiểm đối với người được bảo hiểm thông qua mối quan hệ huyết thống, hôn nhân và nuôi dưỡng được liệt kê cụ thể là cha mẹ với con cái, vợ với chồng, anh chị em ruột, ông bà với cháu ruột, cô, dì, chú bác ruột với cháu ruột. Ở khía cạnh lợi ích tinh thần, bên mua bảo hiểm không có nghĩa vụ chứng minh có tồn tại quyền hoặc nghĩa vụ nuôi dưỡng trên thực tế hay không. Cách tiếp cận này phù hợp với yếu tố đạo đức và quan hệ gia đình tại Việt Nam. Bởi vì, nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng giữa những người trong gia đình không phải lúc nào cũng tồn tại mà chỉ thực sự cần thiết trong những trường hợp rủi ro - tức khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra.
Thứ hai, về mối quan hệ tài chính (vật chất). Theo đó, người mua bảo hiểm có thể mua bảo hiểm cho bất kỳ chủ thể nào nếu chứng minh được có tồn tại mối quan hệ giữa người mua bảo hiểm với người được bảo hiểm. Ví dụ: Quyền lợi có thể được bảo hiểm từ lợi ích kinh tế tồn tại giữa các đối tác kinh doanh, giữa người sử dụng lao động và người lao động, giữa chủ nợ và con nợ… Ở cách tiếp cận này, bên mua bảo hiểm phải chứng minh được mối quan hệ về tài chính tồn tại tại thời điểm giao kết hợp đồng và trong suốt quá trình thực hiện hợp đồng. Dưới góc độ lý luận, bản chất của quan hệ bảo hiểm, xuất phát từ mục đích của người mua bảo hiểm khi tham gia quan hệ bảo hiểm thì quyền lợi được bảo hiểm là lợi ích tài chính. Như vậy, nếu người mua bảo hiểm muốn mua bảo hiểm cho những người không có quan hệ nuôi dưỡng, cấp dưỡng thì quan hệ giữa người mua bảo hiểm và người được bảo hiểm chỉ có thể hình thành quan hệ tài chính. Do đó, pháp luật thực định cần bãi bỏ khái niệm quyền lợi có thể được bảo hiểm quy định tại khoản 9 Điều 3 Luật KDBH. Theo đó, tùy thuộc vào từng loại hình bảo hiểm sẽ thiết kế khái niệm quyền lợi có thể được bảo hiểm tương ứng cho phù hợp. Cụ thể, đối với bảo hiểm con người, khái niệm quyền lợi có thể được bảo hiểm được xây dựng theo hướng liệt kê những người có mối quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng và ở trường hợp cuối cùng khẳng định là “người khác, nếu bên mua bảo hiểm có quyền hoặc nghĩa vụ về tài chính”.
Thứ ba, cần loại bỏ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 22 Luật KDBH về hợp đồng bảo hiểm vô hiệu khi người mua bảo hiểm không có quyền lợi có thể được bảo hiểm tại thời điểm giao kết hợp đồng bảo hiểm. Theo đó, người mua bảo hiểm chỉ cần có quyền lợi có thể được bảo hiểm tại thời điểm xảy ra sự kiện bảo hiểm. Cách tiếp cận này phù hợp với bản chất của BHNT có thời gian đóng bảo hiểm rất dài, khả năng hình thành, thay đổi, chấm dứt quyền lợi có thể được bảo hiểm là rất cao.
Thứ tư, pháp luật KDBH cần ấn định thời hạn tối đa tính từ ngày người mua bảo hiểm không còn quyền lợi có thể được bảo hiểm, người mua bảo hiểm phải chuyển nhượng quyền lợi có thể được bảo hiểm cho người có quyền lợi có thể được bảo hiểm tiếp theo. Điều này hạn chế những tranh chấp khi có sự thay đổi quyền lợi có thể được bảo hiểm trong quá trình thực hiện hợp đồng.
Trên đây là các nội dung giải đáp của chúng tôi về Hướng dẫn giải quyết quyền lợi bảo hiểm. Trong quá trình tìm hiểu, nếu như các bạn cần Công ty Luật ACC hướng dẫn các vấn đề pháp lý vui lòng liên hệ với chúng tôi để được giải đáp.
Nội dung bài viết:
Bình luận