Định nghĩa tái thẩm là gì

kien-nghi-ve-thanh-phan-thoi-han-giai-quyet-theo-thu-tuc-to-tung-dan-su-rut-gon-8

 định nghĩa tái thẩm

1. Tái thẩm là gì?

 Bộ luật tố tụng hình sự  2015 quy định tính chất của tái thẩm như sau: 

 

 “Điều 397. Tính chất xét xử mới 

 

 Xét xử mới là việc xét lại bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật  nhưng bị kháng nghị do có những tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án, quyết định mà Toà án không chấp nhận. hoặc quyết định. » 

 

 Để phân tích cụ thể hơn vụ dàn xếp trên, chúng ta cùng tìm hiểu các khía cạnh của vụ kiện mới 

 

 Về vấn đề xét xử mới: Là bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị do phát hiện  tình tiết mới. Qua đó ta thấy đối tượng của thủ tục tái thẩm là  bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật chứ không phải là vụ án như ở các phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm. Tòa án  tái thẩm không xem xét lại, đánh giá, kết luận lại những  vấn đề liên quan đến nội dung  vụ án. Bản án, quyết định  có hiệu lực  là  bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị  hoặc  bản án đã qua cả hai cấp sơ thẩm, phúc thẩm. Bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật được tái thẩm khi  bản án, quyết định đó bị kháng nghị vì phát hiện  những tình tiết mới có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của  quyết định mà Tòa án không biết khi ra bản án, quyết định đó. 

 

  Mục đích của xét xử mới là để xem xét những tình tiết mới được phát hiện làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án, quyết định  bị kháng nghị trên thực tế. Tòa án xem xét tác động của tình tiết mới  đối với vụ án, tình tiết đó có làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án, quyết định bị kháng nghị hay không. Đây  là thủ tục kiểm tra hiệu lực bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án. Nếu bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật là không có căn cứ thì  bị hủy; khôi phục  trình tự tố tụng  giải quyết lại vụ án hình sự nhằm khắc phục  sai sót của Tòa án trong việc xác định sự thật của vụ án và bảo đảm  tính hợp pháp của  quyết định của Tòa án. 

  Cơ sở của thủ tục tái thẩm  là đơn kháng cáo yêu cầu tái thẩm. Là sự phản đối của  người tiến hành tố tụng  người có thẩm quyền. Hiện nay, Bộ luật tố tụng hình sự quy định người có thẩm quyền kháng nghị  là Parquet du Parquet. Về thẩm quyền tái thẩm, Tòa án cấp trên trực tiếp có thẩm quyền tái thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp dưới. 

  Từ những khía cạnh trên ta có thể hiểu thủ tục tái thẩm là hình thức pháp lý mà Tòa án có thẩm quyền áp dụng để xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị người có thẩm quyền kháng nghị vì có những tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án, quyết định đó. bản án. hoặc quyết định mà Tòa án không biết  khi ra bản án, quyết định đó để bảo đảm  sự thật của vụ án được xác lập một cách khách quan, đầy đủ, thấu đáo và đầy đủ.  

 Tái thẩm tiếng Anh là: “Retrial”. 

2. Ý nghĩa của thủ tục tái thẩm:

 Thủ tục tái thẩm là cơ chế bảo đảm và tăng cường trách nhiệm giải trình của nhà nước trước công dân, bảo đảm việc áp dụng pháp luật  nghiêm minh, công bằng, bảo vệ đầy đủ các quyền cơ bản của công dân. 

 

 Thiết chế tái thẩm góp phần bảo đảm hiệu quả hoạt động và tính độc lập của các cơ quan xét xử, từ đó bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân.  Đảm bảo  vụ việc có căn cứ và pháp luật được áp dụng chính xác, thống nhất trong hoạt động trọng tài. 

 Sửa chữa những sai sót trong quá trình điều tra, truy tố tội phạm. 

 Thông qua thủ tục tái bản, bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật có thể bị hủy bỏ hiệu lực pháp luật nếu có tình tiết mới  làm thay đổi cơ bản nội dung  vụ án. Do đó khôi phục lại trình tự tố tụng của vụ án, để  xác định sự thật của vụ án. 

 Quyết định tái thẩm của Tòa án có thẩm quyền  hoặc là cơ sở pháp lý để khẳng định tính hợp pháp của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật; hoặc là căn cứ để hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật dẫn đến kết thúc quá trình tố tụng vụ án hoặc khôi phục trình tự tố tụng vụ án (quyết định hủy bỏ hiệu lực pháp luật). điều tra và xét xử mới).

 3. Trình tự kháng nghị theo thủ tục tái thẩm trong lĩnh vực hình sự: 

 Còn đối với người có thẩm quyền kháng nghị thì 

 

  Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm  bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án các cấp, trừ quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. 

  Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương có quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm  bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án quân sự  quân khu, Toà án quân sự khu vực. 

  Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao có quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm  bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân cấp huyện thuộc  thẩm quyền  lãnh thổ của mình. 

 (Điều 400 BLTTHS 2015) 

 

  Điều 398  Bộ luật tố tụng hình sự quy định  căn cứ  kháng nghị theo thủ tục tái thẩm 

 

 Bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật phải bị kháng nghị theo thủ tục tái thẩm khi có một trong các căn cứ sau đây: 

 

 - Phải chứng minh được lời khai của người làm chứng, kết luận giám định, kết luận định giá bất động sản, lời dịch của người phiên dịch hoặc bản dịch  có yếu tố quan trọng không đúng sự thật. Trên thực tế, có  nhiều vụ án có sự tham gia của người làm chứng, người giám định, người phiên dịch, v.v. Tuy nhiên,  trong trường hợp nào họ cũng thực hiện đúng nghĩa vụ, nhiệm vụ của mình nhưng không hiểu vì  lý do gì đã cung cấp lời khai, kết luận giám định, kết luận giám định  tài sản, bản dịch, bản dịch sai sự thật  dẫn đến việc hội đồng xét xử xét xử sai người, đúng tội. luật. Đây  là căn cứ để  kháng cáo phiên tòa mới. 

 

 

 - Có những tình tiết mà Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm  không biết  mà kết luận sai, làm cho bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật không đúng và không khách quan của vụ án. Trong trường hợp này, Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán vì  không biết những tình tiết đó nên đã kết luận sai đối với bản án, quyết định của Tòa án. Trường hợp Điều tra viên, Kiểm tra viên, Thẩm phán, Hội thẩm nhận thức được những tình tiết đó nhưng cố ý làm trái dẫn đến bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật không phù hợp với sự thật khách quan. trường hợp. Vật chứng, biên bản  điều tra, truy tố, xét xử, biên bản các hoạt động tố tụng khác hoặc  chứng cứ, tài liệu, sự việc khác của vụ án bị làm giả, sai sự thật. Đây là lý do được những người tham gia tố tụng và những người khác đưa ra. Bằng chứng, hồ sơ, bằng chứng, tài liệu, v.v. làm sai lệch dẫn đến cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án tiến hành điều tra, truy tố, xét xử  trên những căn cứ  không đúng  sự thật khách quan dẫn đến ra quyết định, phán quyết sai. 

 

 - Những tình tiết khác làm cho bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật không trung thực với sự thật khách quan của vụ án.  

 Khi cơ quan, tổ chức, cá nhân phát hiện tình tiết mới của vụ án và thông báo kèm theo  tài liệu có liên quan cho Viện kiểm sát hoặc Tòa án. Trong trường hợp Toà án nhận được thông báo hoặc tự mình phát hiện ra những tình tiết mới của vụ án thì phải thông báo ngay bằng văn bản kèm theo  tài liệu liên quan cho Viện trưởng VKS có thẩm quyền kháng nghị tái thẩm. 

 Cơ quan công tố xác minh  tình tiết mới hoặc yêu cầu Cơ quan điều tra có thẩm quyền xác minh tình tiết mới của vụ án khi xét thấy cần thiết. 

 Việc kháng nghị theo thủ tục tái thẩm được tiến hành trong thời hạn luật định. Thời hạn kháng nghị theo thủ tục tái thẩm được quy định tại Điều 401 Bộ luật tố tụng hình sự  2015: 

 

 "thứ nhất. Việc xét xử mới theo hướng  có lợi cho người bị kết án chỉ được tiến hành trong thời hạn truy cứu trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 27  Bộ luật hình sự và thời hạn kháng nghị không được quá 01 năm, kể từ ngày giấy ủy quyền Giám sát viên nhận thông tin  về tình tiết mới  phát hiện. 

  1. Việc tái thẩm  có lợi cho người bị kết án  không bị hạn chế về thời gian và được thực hiện cả trong trường hợp người bị kết án đã chết mà cần phải xóa án tích cho họ. 
  2. Kháng nghị  dân sự trong vụ án hình sự đối với đương sự được thực hiện theo quy định của pháp luật  tố tụng dân sự.

 

Nội dung bài viết:

    Hãy để lại thông tin để được tư vấn

    comment-blank-solid Bình luận

    084.696.7979 19003330 Báo giá Chat Zalo