Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết việc dân sự khi nào? Đâu là căn cứ để đình chỉ giải quyết việc dân sự và hậu quả pháp lý của việc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là gì? Bài viết sau đây ACC sẽ tư vấn cho các bạn biết những vấn đề pháp lý cần thiết về các trường hợp đình chỉ việc xét đơn yêu cầu trong tố tụng dân sự chính xác và đầy đủ nhất.
Các trường hợp đình chỉ việc xét đơn yêu cầu trong Tố tụng dân sự
Các trường hợp đình chỉ việc xét đơn yêu cầu trong Tố tụng dân sự
1. Người yêu cầu rút đơn yêu cầu
Theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 366 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, trong giai đoạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu, Tòa án có thể ra quyết định đình chỉ việc xét đơn yêu cầu. Đồng thời trả lại đơn yêu cầu, tài liệu, chứng cứ kèm theo nếu người yêu cầu rút đơn yêu cầu. Đây là trường hợp người yêu cầu không muốn Tòa án giải quyết nên đã rút đơn, lúc này đối tượng để Tòa án giải quyết không còn. Ngoài căn cứ ra quyết định đình chỉ việc xét đơn yêu cầu trong Tố tụng dân sự theo khoản 2 Điều 366 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 nói chung thì còn có các căn cứ khác. Cụ thể:
2. Người yêu cầu đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt
Theo khoản 2 Điều 367 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, trường hợp người yêu cầu đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì bị coi là từ bỏ yêu cầu và Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết việc dân sự. Trong trường hợp này, quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự đó theo thủ tục do Bộ luật này quy định vẫn được bảo đảm. Nói một cách khác, sau khi có quyết định đình chỉ, người yêu cầu vẫn có quyền nộp lại đơn yêu cầu và tài liệu, chứng cứ kèm theo cho Tòa án để Tòa án giải quyết việc dân sự đó nếu thời hiệu yêu cầu vẫn còn.
3. Người bị yêu cầu tìm kiếm vắng mặt tại nơi cư trú đã về
Theo Điều 382 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 về việc ra quyết định đình chỉ xét đơn yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt. Trong thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú, nếu người bị yêu cầu trở về và có yêu cầu đình chỉ xét đơn yêu cầu. Tòa án ra quyết định đình chỉ xét đơn yêu cầu.
4. Người bị yêu cầu tuyên bố mất tích trở về
Theo khoản 3 Điều 388 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 về việc đình chỉ xét đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích. Trong thời hạn thông báo, nếu người bị yêu cầu tuyên bố mất tích trở về và yêu cầu Tòa án đình chỉ việc xét đơn yêu cầu. Lúc này, Tòa án sẽ ra quyết định đình chỉ việc xét đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích.
5. Người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết trở về
Theo khoản 3 Điều 392 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 trong thời hạn thông báo, nếu người yêu cầu rút đơn yêu cầu hoặc người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết trở về và thông báo cho Tòa án biết thì Tòa án ra quyết định đình chỉ việc xét đơn yêu cầu.
6. Các bên đương sự hòa giải đoàn tụ thành
Theo khoản 3 Điều 397 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 thì nếu các bên đương sự hòa giải đoàn tụ thành, trở về chung sống với nhau thì lúc này đối tượng để hòa giải không còn nên Thẩm phán ra quyết định đình chỉ giải quyết yêu cầu của họ.
7. Các trường hợp đình chỉ đối với yêu cầu xét tính hợp pháp của cuộc đình công
Đối với yêu cầu Tòa án xét tính hợp pháp của cuộc đình công theo Điều 409 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 ngoài căn cứ người yêu cầu rút đơn yêu cầu, Tòa án còn đình việc xét tính hợp pháp của cuộc đình công trong các trường hợp sau đây:
Các bên đã thỏa thuận được với nhau về giải quyết cuộc đình công và có đơn yêu cầu Tòa án không giải quyết. Nếu người yêu cầu rút đơn yêu cầu thể hiện ý chí của người yêu cầu thì trường hợp này đòi hỏi sự thống nhất ý chí của các đương sự trong việc cùng nhau giải quyết các vấn đề liên quan đến đình công và cùng nhau có đơn yêu cầu Tòa án không giải quyết nữa.
Người yêu cầu đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, trừ trường hợp do sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan. Đây là trường hợp mặc nhiên coi như người yêu cầu từ bỏ yêu cầu xem xét tính hợp pháp của cuộc đình công.
Bình luận