Hiện nay, trong Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015, Luật Tổ chức Cơ quan điều tra hình sự (CQĐTHS) năm 2015 và các văn bản pháp luật tố tụng hình sự có liên quan nêu ra một số khái niệm nhưng chưa cụ thể, đầy đủ về Điều tra viên (ĐTV). Sau đây, ACC muốn gửi tới quý bạn đọc bài viết "Trong tố tụng dân sự có điều tra viên không?" và một vài vấn đề pháp lý có liên quan:

1. Trong tố tụng dân sự có điều tra viên không?
Trong tố tụng dân sự không có sự có mặt của điều tra viên mà chỉ trong hoạt động tố tụng hình sự mới có sự tham gia của Điều tra viên.
Hiện nay, trong Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015, Luật Tổ chức Cơ quan điều tra hình sự (CQĐTHS) năm 2015 và các văn bản pháp luật tố tụng hình sự có liên quan nêu ra một số khái niệm nhưng chưa cụ thể, đầy đủ về Điều tra viên (ĐTV). Theo một số tài liệu có liên quan đã đưa ra nhiều quan điểm khác nhau về ĐTV như sau:
- Theo tiếng Hán, thì có thể hiểu về “điều tra” là tìm tòi, xét hỏi người, việc để tìm ra sự thật; còn “viên” là viên chức, người nhận lãnh chức vụ của nhà nước. Do đó, ĐTV được hiểu một cách đơn giản là những viên chức nhà nước được giao nhiệm vụ chuyên tìm tòi, xét hỏi người, việc để tìm ra sự thật. Đây là một khái niệm theo cách giải nghĩa đơn giản, thông thường trong cuộc sống không có căn cứ pháp lý.
- Theo Từ điển Bách khoa Công an nhân dân (CAND), thì Điều tra viên được hiểu là một chức danh Nhà nước để chỉ cán bộ làm trong cơ quan điều tra, có nhiệm vụ tiến hành các biện pháp điều tra do Luật Tố tụng hình sự (TTHS) quy định và phải chịu trách nhiệm về những hoạt động điều tra của mình. Khái niệm này cũng chưa bao quát đầy đủ, chưa thể hiện rõ vị trí pháp lý của ĐTV trong hoạt động TTHS.
Một số giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam ở các cơ sở đào tạo của nước ta cũng đề cập đến khái niệm ĐTV theo nhiều khía cạnh khác nhau, đó là:
- Giáo trình Luật TTHS Việt Nam dành cho hệ đào tạo sau đại học của Học viện Cảnh sát nhân dân đề cập đến khái niệm ĐTV như sau: “Điều tra viên là người tiến hành tố tụng thực hiện nhiệm vụ được phân công của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng CQĐT trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự nhằm thu thập chứng cứ chứng minh tội phạm có xảy ra hay không, ai là người thực hiện tội phạm và những tình tiết khác của vụ án”.
- Giáo trình Luật TTHS Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội, đưa ra khái niệm về ĐTV khá ngắn gọn: “Điều tra viên là người trực tiếp tiến hành các hoạt động điều tra trong tố tụng hình sự”.
Pháp lệnh về TCĐTHS năm 2004 (Điều 29) đưa ra khái niệm về ĐTV: “Điều tra viên là người được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ điều tra vụ án hình sự”. Luật Tổ chức CQĐTHS năm 2015 (Điều 45) thì có khái niệm ngắn gọn hơn là: “Điều tra viên là người được bổ nhiệm để làm nhiệm vụ điều tra hình sự”. ĐTV gồm có các ngạch sau: ĐTV sơ cấp, ĐTV trung cấp, ĐTV cao cấp.
2. Nhiệm vụ, quyền hạn của ĐTV
được quy định chi tiết tại Điều 37 Bộ LTTHS năm 2015 như sau:
- Trực tiếp kiểm tra, xác minh và lập hồ sơ giải quyết nguồn tin về tội phạm;
- Lập hồ sơ vụ án hình sự;
- Yêu cầu hoặc đề nghị cử, thay đổi người bào chữa, yêu cầu cử, thay đổi người phiên dịch, người dịch thuật;
- Triệu tập và hỏi cung bị can, triệu tập và lấy lời khai người tố giác, báo tin về tội phạm, người bị tố giác, kiến nghị khởi tố, người đại diện theo pháp luật của pháp nhân, lấy lời khai người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, người bị tạm giữ, triệu tập và lấy lời khai của người làm chứng, bị hại, đương sự;
- Quyết định áp giải người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, quyết định dẫn giải người làm chứng, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, bị hại, quyết định giao người dưới 18 tuổi cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm giám sát, quyết định thay đổi người giám sát người dưới 18 tuổi phạm tội;
- Thi hành lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp, lệnh hoặc quyết định bắt, tạm giữ, tạm giam, khám xét, thu giữ, tạm giữ, kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản, xử lý vật chứng; Tiến hành khám nghiệm hiện trường, khai quật tử thi, khám nghiệm tử thi, xem xét dấu vết trên thân thể, đối chất, nhận dạng, thực nghiệm điều tra;
- Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn tố tụng khác thuộc thẩm quyền của Cơ quan điều tra theo sự phân công của Thủ trưởng Cơ quan điều tra theo quy định của Bộ luật TTHS. ĐTV phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và trước Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra về hành vi, quyết định của mình.
Điều luật này đã quy định cụ thể “những nhiệm vụ và quyền hạn” của ĐTV tương xứng với Điều 34 BLTTHS năm 2015 quy định ĐTV là “người tiến hành tố tụng” tương tự các chức danh tư pháp thuộc các cơ quan tố tụng khác, như: Kiểm sát viên của Viện Kiểm sát, Thẩm phán của Toà án,... Các nội dung quy định tại Khoản 1 về “những nhiệm vụ và quyền hạn” của ĐTV chủ yếu quy định về các biện pháp điều tra mà ĐTV được phép thực hiện. Khoản 2 của điều luật cũng quy định rất chung về trách nhiệm của ĐTV là “phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và trước Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng CQĐT về hành vi, quyết định của mình”.
Bên cạnh đó tại các điều 45, 46, 47, 48, 49, 50, 51, 54, 56 Luật Tổ chức CQĐTHS năm 2015 đã quy định: về khái niệm ĐTV; tiêu chuẩn chung của ĐTV; tiêu chuẩn bổ nhiệm ĐTV sơ cấp, trung cấp, cao cấp; bổ nhiệm ĐTV trong trường hợp đặc biệt; nhiệm kỳ của ĐTV; về những việc ĐTV không được làm; về việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức ĐTV.
Như vậy, có thể xác định địa vị pháp lý của ĐTV tương tự các chức danh tư pháp thuộc các cơ quan tố tụng khác, như: Kiểm sát viên, Thẩm phán... ĐTV là một trong số những người tiến hành tố tụng, được tiến hành áp dụng một số biện pháp điều tra theo quy định của luật tố tụng hình sự khi được Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra phân công điều tra vụ án hình sự, phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về những hành vi và quyết định của mình.
3. Hoạt động của Điều tra viên
Điều tra là hoạt động thu thập tin, tài liệu, tình hình… phản ánh sự thật về một tổ chức, con người, sự việc, hiện tượng hoặc mục tiêu, địa bàn, lĩnh vực phục vụ nhiệm vụ bảo vệ an ninh, trật tự. Điều tra được tiến hành dưới nhiều hình thức: Trực tiếp hoặc gián tiếp; công khai hoặc bí mật; trên phạm vi rộng (diện) hay hẹp (điểm). Hoạt động điều tra là hoạt động ban đầu rất quan trọng và hết sức cần thiết đối với tất cả các vụ án hình sự, để buộc những “dấu vết” của vụ án phải “lên tiếng”. Theo Pháp luật của nhiều nước và Việt Nam đều quy định những cơ sở pháp lý đối với hoạt động điều tra như: Hệ thống các CQĐT, thẩm quyền điều tra, thời hạn điều tra, các biện pháp điều tra, người tiến hành điều tra... Nhưng việc đưa ra khái niệm chính thức, tổng quát về “hoạt động điều tra” chưa được quy định trong Bộ luật TTHS. Hiện nay về mặt lý luận, có một số quan điểm khác nhau về khái niệm “hoạt động điều tra” như sau:
Quan điểm thứ nhất: Điều tra là hoạt động tìm tòi, xét hỏi người, việc để tìm cho ra sự thật.
Quan điểm thứ hai: Về hình sự, điều tra là các công cuộc truy tầm thủ phạm, thâu thập chứng cứ, ghi chép dấu tích, thường được các nhân viên cảnh sát làm ngay khi việc phạm pháp mới xảy ra, lắm khi chưa có vết tích khả nghi, hãy còn bị dư luận bàn tán. Những công việc điều tra gồm: lấy lời khai nhân chứng, lấy khẩu cung nghi phạm, kiểm soát lý lịch, xét người, khám nhà, bắt giam,
Quan điểm thứ ba: Điều tra là giai đoạn tố tụng hình sự, trong đó cơ quan
Nhà nước có thẩm quyền áp dụng mọi biện pháp do Bộ luật TTHS quy định để xác định tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội làm cơ sở cho việc xét xử của Toà án
Quan điểm thứ tư: Điều tra là hoạt động tố tụng của Cơ quan điều tra và những cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra nhằm xác định tội phạm và người có hành vi phạm tội, lập hồ sơ để đề nghị truy tố, tìm ra nguyên nhân và điều kiện phạm tội, yêu cầu các cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp khắc phục và ngăn ngừa. Hoạt động điều tra phải tôn trọng sự thật, tiến hành một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ những chứng cứ xác định có tội hoặc vô tội, những tình tiết tăng nặng và những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can. Mọi hoạt động điều tra phải tuân theo pháp luật, chấp hành các nguyên tắc và thủ tục do Bộ luật TTHS quy định.
Trong số các quan điểm nêu trên thì quan điểm thứ tư là tương đối đầy đủ, toàn diện, thể hiện các yếu tố đặc trưng của hoạt động điều tra. Quan điểm này đã nêu được chủ thể áp dụng các biện pháp điều tra (CQĐT và những cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra), nêu được các nhiệm vụ của hoạt động điều tra (xác định tội phạm và người có hành vi phạm tội, lập hồ sơ đề nghị truy tố, tìm ra nguyên nhân và điều kiện phạm tội để có những biện pháp khắc phục, ngăn ngừa), những cơ sở pháp lý cho hoạt động điều tra (BLTTHS, Luật Tổ chức CQĐTHS), và những nguyên tắc của hoạt động điều tra.
Trên đây là toàn bộ nội dung của chúng tôi về vấn đề Trong tố tụng dân sự có điều tra viên không?, cũng như các vấn đề pháp lý có liên quan. Trong quá trình tìm hiểu nếu như quý bạn đọc còn thắc mắc và có nhu cầu sử dụng dịch vụ tư vấn của ACC vui lòng liên hệ với chúng tôi bằng cách để lại bình luận hoặc liên hệ qua các thông tin dưới đây để được tư vấn và giải đáp một cách cụ thể nhất.
Nội dung bài viết:
Bình luận