Nơi cư trú của cá nhân có ý nghĩa quan trọng trong quan hệ dân sự giữa các cá nhân với nhau và trong quan hệ giữa cá nhân với cơ quan nhà nước. Nơi cư trú là nơi công dân đăng ký hộ khẩu thường trú. Khi thay đổi nơi cư trú, người chuyển đến hoặc chủ gia đình, người có trách nhiệm cùng chung sống phải liên hệ với cơ quan Công an nơi cư trú để làm thủ tục đăng ký nơi cư trú. thủ tục chuyển nhượng. Trong bài viết này, Luật ACC sẽ cung cấp một số thông tin liên quan đến biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.

Căn cứ pháp lý
1. Cấm đi khỏi nơi cư trú là gì ?
Cấm đi khỏi nơi cư trú là một trong các biện pháp nhằm ngăn chặn các mối nguy hiểm cho xã hội, ngăn chặn tội phạm tiếp tục xảy ra. Theo khoản 1 Điều 123 Bộ luật Tố tụng hình sự, cấm đi khỏi nơi cư trú là việc yêu cầu bị can, bị cáo có nơi cư trú, lý lịch rõ ràng không được đi ra khỏi nơi cư trú nhằm bảo đảm sự có mặt của họ theo giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án.
2. Điều kiện về biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.
- Biện pháp này chỉ áp dụng đối với bị can bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, lần đầu, có nơi cư trú rõ ràng, có thái độ khai báo thành khẩn, trong trường hợp bị can, bị cáo không bị bắt để tạm giam hoặc đã bị tạm giam nhưng được cơ quan điều tra, viện kiểm sát, tòa án cho tại ngoại khi có đủ cơ sở cho rằng họ sẽ không bỏ trốn, không gây cản trở cho việc điều tra, truy tố và xét xử hoặc tiếp tục phạm tội.
- Khi áp dụng biện pháp này, cơ quan điều tra, viện kiểm sát hoặc toà án buộc bị can, bị cáo làm giấy cam đoan không đi khỏi nơi cư trú của mình và phải có mặt khi có giấy triệu tập. Trong trường hợp bị can, bị cáo có lý do chính đáng phải tạm thời đi khỏi nơi cư trú thì phải được sự đồng ý của chính quyền xã, phường, thị trấn nơi người đó cư trú và phải có giấy phép của cơ quan đã áp dụng biện pháp ngăn chặn.
- Nếu bị can, bị cáo vi phạm cam đoan sẽ bị áp dụng biện pháp ngăn chặn khác.
- Người ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú phải thông báo về việc áp dụng biện pháp này cho chính quyền xã, phường, thị trấn nơi bị can, bị cáo cư trú và giao bị can, bị cáo cho chính quyền xã, phường, thị trấn để quản lý, theo dõi.
- Biện pháp ngăn chặn này ít nghiêm khắc hơn biện pháp tạm giam, người bị áp dụng biện pháp này không bị cách li khỏi xã hội mà họ chỉ bị hạn chế quyền tự do đi lại. Do đó, đối tượng áp dụng biện pháp này thường là bị can, bị cáo
- Phạm tội ít nghiêm trọng,
- Phạm tội lần đầu,
- Có nơi ở nơi cư trú rõ ràng,
- Thái độ khai báo thành khẩn
- Và có đủ cơ sở cho rằng họ sẽ không bỏ trốn,
- Không gây cản trở cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc tiếp tục phạm tội.
3. Thẩm quyền ra quyết định cấm đi khỏi nơi cư trú.
Theo quy định tại khoản 3 Điều 123 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, những người sau đây có quyền ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú:
- Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp.
- Viện trưởng, Phó Viện trưởng VKSND và Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự các cấp.
- Chánh án, Phó Chánh án TAND và Chánh án, Phó Chánh án Tòa án quân sự các cấp; Hội đồng xét xử.
- Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, Đồn trưởng Đồn biên phòng.
4. Thủ tục áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.
Khi áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú; các cơ quan tố tụng phải tuân thủ các trình tự thủ tục sau:
– Bị can, bị cáo phải làm giấy cam đoan thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ; theo quy định tại khoản 2 Điều 123 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
– Cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng biện pháp này phải có lệnh thể hiện bằng hình thức văn bản. Tuy nhiên, đến nay tòa án nhân dân tối cao vẫn chưa ban hành biểu mẫu về lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú để các Tòa án địa phương áp dụng một cách thống nhất trên cả nước.
Biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cần phải có những nội dung cơ bản sau: Ghi rõ căn cứ áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, tên của xã phường, thị trấn nơi bị can, bị cáo đang cư trú, các nghĩa vụ mà bị can, bị cáo phải chấp hành, hậu quả của việc không thực hiện các nghĩa vụ đã cam kết, thời hạn bị cấm đi khỏi nơi cư trú.
– Người ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú phải thông báo về việc áp dụng biện pháp này cho chính quyền xã, phường, thị trấn nơi bị can, bị cáo cư trú, đơn vị quân đội đang quản lý bị can, bị cáo và giao bị can, bị cáo cho chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc đơn vị quân đội đó để quản lý, theo dõi họ.
– Trường hợp bị can, bị cáo vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan phải tạm thời đi khỏi nơi cư trú thì phải được sự đồng ý của chính quyền xã, phường, thị trấn nơi người đó cư trú hoặc đơn vị quân đội quản lý họ và phải có giấy cho phép của người đã ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. Tuy nhiên, quy định tại Điều 4 bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 không giải thích như thế nào được coi là lý do “bất khả kháng” hay “trở ngại khách quan”. Thế nhưng, trên thực tiễn có thể xảy ra một số tình huống như:
- Bị can, bị cáo trong thời gian bị cấm đi khỏi nơi cư trú bị tai nạn, bệnh tật,… cần phải chuyển tuyến bệnh viện để điều trị theo ý kiến của bác sĩ;
- Người thân thích của bị can, bị cáo ở một địa phương khác bị tai nạn, bệnh tật, chết,… trong thời gian họ bị cấm đi khỏi nơi cư trú;
- Nơi cư trú của bị can, bị cáo gặp phải thiên tai, dịch bệnh,… mà phải tạm thời đi khỏi nơi cư trú theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền.
– Trong trường hợp bị can, bị cáo vi phạm nghĩa vụ cam đoan thì chính quyền xã, phường, thị trấn nơi bị can, bị cáo cư trú, đơn vị quân đội đang quản lý bị can, bị cáo phải báo ngay cho cơ quan đã ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú biết để xử lý theo thẩm quyền.
Trên đây là nội dung bài viết của Luật ACC về “Điều kiện cấm đi khỏi cư trú”. Bài viết trên là những thông tin cần thiết mà quý độc giả có thể áp dụng vào đời sống thực tiễn. Trong thời gian tham khảo nếu có những vướng mắc hay thông tin nào cần chia sẻ hãy chủ động liên hệ và trao đổi cùng luật sư để được hỗ trợ đưa ra phương án giải quyết cho những vướng mắc pháp lý mà khách hàng đang mắc phải.
Nội dung bài viết:
Bình luận