1. Giới thiệu
Tự do hợp đồng là một trong các nguyên tắc cơ bản của pháp luật hợp đồng. Ở Việt Nam, nguyên tắc này được quy định tại khoản 2 Điều 3 Bộ luật Dân sự năm 2015 và được thể hiện trong các văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành khác. Tuy nhiên, tư duy này không phải được tuyệt đối hóa trong mọi hoàn cảnh bởi lẽ bản chất mỗi con người luôn muốn tối đa hóa lợi ích mà họ nhận được và chính nhu cầu này có thể làm ảnh hưởng đến lợi ích chính đáng, hợp pháp của người khác và của xã hội. Vị thế xã hội, khả năng thống lĩnh thị trường, tiềm lực kinh tế khác nhau, có thể dẫn đến việc bất cân xứng giữa các bên trong quan hệ hợp đồng và việc xuất hiện các điều khoản tuy mang “ vỏ bọc tự do thỏa thuận ” nhưng lại không tự nguyện đúng nghĩa, các điều khoản này được gọi là các điều khoản không công bằng( illegal contract terms) bởi không cân bằng quyền, nghĩa vụ của các bên.
2. Quy định pháp luật hiện hành nhằm bảo vệ quyền lợi của bên vay trong hợp đồng tín dụng theo mẫu
Lẽ công bằng trong hợp đồng tín dụng theo mẫu và nghĩa vụ minh bạch thông drum
Lẽ công bằng trong hợp đồng tín dụng theo mẫu
Hợp đồng theo mẫu được định nghĩa là “ hợp đồng gồm những điều khoản do một bên đưa ra theo mẫu để bên kia trả lời trong một thời gian hợp lý nếu bên được đề nghị trả lời chấp nhận thì coi như chấp nhận toàn bộ nội soil hợp đồng theo mẫu mà bên đề nghị đã đưa ra ” 1. Điều này đồng nghĩa với việc hợp đồng mẫu được thực hiện theo phương thức giao kết “ take it or leave it ”- đồng ý hoặc không đồng ý, dẫn đến ít có cơ hội hơn khi thương lượng về các điều khoản theo hướng có lợi hơn cho người nhận được hợp đồng mà bên còn lại đưa ra.
“ Đặc điểm chung của các hợp đồng mẫu là hàm chứa các điều khoản soạn sẵn, không được thương lượng giữa hai bên(non-negotiable) và được áp dụng cho nhiều lần giao dịch Vì vậy nói đến pháp luật về hợp đồng mẫu là nói đến pháp luật về điều khoản hợp đồng soạn sẵn ” 2.
Đối với hoạt động cấp tín dụng, hợp đồng tín dụng theo mẫu được áp dụng vô cùng phổ biến và chính điều này làm nảy sinh vấn đề về tính cân bằng quyền lợi của các điều khoản trong loại hợp đồng này khi các TCTD soạn sẵn để áp dụng nhiều lần cho nhiều khách hàng vay vốn tại các tổ chức này.
Cùng với nguyên tắc tuân theo các thỏa thuận đã ký kết trong hợp đồng, nguyên tắc đảm bảo cân bằng lợi ích là xu hướng mà pháp luật hợp đồng hướng đến để đảm bảo tính công bằng trong loại hợp đồng theo mẫu nói chung và hợp đồng tín dụng theo mẫu nói riêng.
Khi áp dụng hợp đồng tín dụng theo mẫu, một điều chắc chắn rằng, TCTD luôn mong muốn tối đa hóa lợi ích của mình khi thực hiện hoạt động cấp tín dụng cho khách hàng. Khó có thể loại trừ khả năng TCTD- bên cho vay sẽ đưa ra các điều khoản nhằm tăng lợi ích, giảm nghĩa vụ cho mình và tăng trách nhiệm, giảm quyền lợi cho bên vay.
Một điều có thể nhận thấy ở đa phần các hợp đồng tín dụng theo mẫu, khả năng tiếp cận để hiểu thấu đáo tất cả các điều khoản của hợp đồng tín dụng theo mẫu của bên vay còn hạn chế bởi ngôn ngữ sử dụng, từ ngữ chuyên ngành, số trang hợp đồng khá nhiều, cỡ chữ của các hợp đồng tín dụng đa phần khá nhỏ, Bên cạnh đó, có thể có những trường hợp vì mục tiêu trước mắt của bên vay là cần vốn cho nhu cầu cấp bách nên quyết định ký kết hợp đồng nhưng thực chất không hiểu rõ nghĩa vụ mình bị ràng buộc đến đâu với các điều khoản của hợp đồng tín dụng theo mẫu đó.
Hợp đồng là sự tự do thỏa thuận giữa các bên nhưng điều đó không đồng nghĩa với việc pháp luật không có sự can thiệp, đặc biệt là đối với các trường hợp hợp đồng tín dụng theo mẫu. Hướng sự quan tâm đến bên yếu thế chịu sự ràng buộc của loại hợp đồng này, pháp luật hiện hành có các quy định về hợp đồng mẫu tại Điều 405 Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 đối với trường hợp vay tiêu dùng của khách hàng vay theo hợp đồng tín dụng theo mẫu, các văn bản hướng dẫn của Luật Các TCTD năm 2010 như Thông tư số 39/ 2016/ TT- NHNN ngày30/12/2016 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam( NHNN) quy định về hoạt động cho vay của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng; Thông tư số 14/ 2017/ TT- NHNN ngày29/9/2017 của Thống đốc NHNN quy định về phương pháp tính lãi trong hoạt động nhận tiền gửi, cấp tín dụng giữa TCTD với khách hàng;
Nghĩa vụ minh bạch thông drum của TCTD
Có thể nói, vấn đề được quan tâm hàng đầu trong việc đi đến ký kết hợp đồng chính là việc tiếp nhận thông drum đầy đủ để từ đó các bên cân nhắc, cẩn trọng quyền và nghĩa vụ khi chịu sự ràng buộc bởi hợp đồng. Một mặt, bên vay có thể là bên “ thiếu ” thông drum vì hợp đồng tín dụng theo mẫu được TCTD đưa ra, TCTD là người “ cầm đằng cán ”, như vậy, nhu cầu về thông drum là nhu cầu mà các khách hàng luôn mong muốn được tiếp nhận đầy đủ, chính xác trước khi ràng buộc vào quan hệ cấp tín dụng này với TCTD. Mặt khác, TCTD cũng là bên cần tìm kiếm thông drum từ bên có nhu cầu vay bởi trước khi giải ngân khoản vay, TCTD phải biết được “ tài chính ” của họ được “ trao ” cho chủ thể nào, khả năng thu hồi vốn có khả thi hay không, và thực hiện việc phương thức phù hợp để bảo đảm khoản vay.
Tuy nhiên, vấn đề cần lưu ý quy định tại khoản 4 Điều 23 Thông tư số 39/ 2016/ TT- NHNN là việc dù có quy định về vấn đề niêm yết hợp đồng tín dụng theo mẫu nhưng qua khảo sát trang thông drum điện tử của TCTD, không phải mọi TCTD đều tuân thủ đúng quy định này. Vấn đề này đặt ra yêu cầu về cơ chế xử lý các TCTD chưa tuân thủ đúng quy định trên thực tiễn.
Diều khoản bắt buộc trong hợp đồng tín dụng
Bên cạnh đó, Thông tư số 39/ 2016/ TT- NHNN đã xác định trách nhiệm cung cấp “ đầy đủ ” thông drum là điều kiện bắt buộc5 phải thực hiện “ trước khi ” khách hàng và TCTD ký kết hợp đồng tín dụng theo mẫu, việc chứng minh cho TCTD đã thực hiện đúng trách nhiệm này thể hiện bằng việc" có xác nhận" của khách hàng. Thông thường, cuối hợp đồng tín dụng theo mẫu, các TCTD sẽ thêm câu thể hiện khách hàng đã đọc, hiểu và được TCTD cung cấp đầy đủ thông drum. Liệu rằng, cách thức thực hiện như vậy có đảm bảo quyền được thông drum của bên vay hay không? Bởi lẽ, việc cung cấp thông drum cần được cụ thể hóa bằng việc TCTD minh chứng bởi các tài liệu đính kèm hoặc được liệt kê trong hợp đồng tín dụng theo mẫu. Như vậy sẽ khắc phục trường hợp các TCTD chỉ dùng một câu cam kết trong hợp đồng để xác minh hoàn thành trách nhiệm, dù thực tế có thể TCTD không thực hiện đúng quy định này.
Giải thích hợp đồng có bên yếu thế trong hợp đồng tín dụng theo mẫu
Vấn đề giải thích hợp đồng chỉ đặt ra trong trường hợp có sự không thống nhất trong cách hiểu, vận dụng các điều khoản của hợp đồng. Do vậy, việc giải thích hợp đồng tín dụng theo mẫu chỉ xảy ra khi giải quyết tranh chấp, bên vay và TCTD không đồng ý với quan điểm của nhau về cách hiểu của các quy định trong hợp đồng tín dụng theo mẫu.
Nhà làm luật đã có sự dự liệu về tình huống này, theo khoản 2 Điều 405 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định “ Trường hợp hợp đồng theo mẫu có điều khoản không rõ ràng thì bên đưa ra hợp đồng theo mẫu phải chịu bất lợi khi giải thích điều
khoản đó ”.
Đối với hợp đồng tín dụng theo mẫu, không tìm thấy các văn bản chuyên ngành quy định trường hợp có “ điều khoản không rõ ràng ” này. Do đó, theo nguyên tắc áp dụng pháp luật, khi giải quyết tranh chấp, cơ quan có thẩm quyền áp dụng quy định về giải thích hợp đồng tại khoản 2 Điều 405 Bộ luật Dân sự năm 2015 để bảo vệ quyền lợi bên vay- bên không đưa ra hợp đồng tín dụng theo mẫu.
3. Khuyến nghị giải pháp nhằm bảo vệ quyền lợi của bên vay trong hợp đồng tín dụng theo mẫu
Theo các phân tích trên về quy định pháp luật hiện hành nhằm bảo vệ quyền lợi của bên vay trong hợp đồng tín dụng tiêu dùng, có thể nhận thấy về cơ bản, khung pháp lý có sự quan tâm thích đáng đối với bên vay- là bên yếu thế trong mối quan hệ vay với TCTD, đặc thù hơn chính là việc TCTD áp dụng hợp đồng tín dụng theo mẫu.
Tuy nhiên, để hoàn thiện quy định pháp luật dựa trên các vấn đề phát sinh trong thực tiễn khi áp dụng hợp đồng tín dụng theo mẫu, tác giả có những đề xuất sau đây
Thứ nhất, việc minh bạch thông drum được quy định cơ bản đầy đủ về các vấn đề mà bên vay cần phải biết để đi đến quyết định ký kết và trong quá trình thực hiện hợp đồng. Việc quy định trách nhiệm minh bạch thông drum cần kèm theo đó là cơ chế giám sát chặt chẽ và chế tài để những quy định này không mang tính “ khuyến khích ” như hiện nay.
Thứ hai, TCTD sẽ được miễn trừ trách nhiệm trong trường hợp cung cấp đầy đủ thông drum và có xác nhận của bên vay về việc này. Thiết nghĩ, việc cung cấp thông drum cần được cụ thể hóa bằng việc TCTD minh chứng bởi các tài liệu đính kèm hoặc được liệt kê trong hợp đồng tín dụng theo mẫu. Như vậy, sẽ khắc phục trường hợp các TCTD chỉ dùng một câu cam kết trong hợp đồng mẫu để làm “ tấm khiên ” xác nhận hoàn thành trách nhiệm nếu TCTD không thực hiện đúng quy định này.
Nội dung bài viết:
Bình luận