Hình phạt của tội đe doạ người khác qua tin nhắn

Đe dọa người khác qua tin nhắn bị xử phạt như thế nào?

Nhắn tin đe dọa liên quan đến việc sử dụng các phương tiện liên lạc như điện thoại và máy tính để gửi tin nhắn đe dọa cho người khác. Người thực hiện hành vi này sẽ phải chịu trách nhiệm pháp lý như trách nhiệm hành chính, trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, không phải trường hợp nhắn tin đe dọa nào cũng phải chịu trách nhiệm hình sự. Theo đó, SMS đe dọa người khác được chia thành 2 trường hợp như sau:

Nhắn tin dọa giết có thể bị phạt tới 7 năm tù
Là đối tượng của tội đe dọa chết được quy định tại Điều 12 BLHS 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 (BLHS) thể nhân có năng lực trách nhiệm hình sự và đã đủ tuổi theo quy định của pháp luật:

“Điều 12. Tuổi chịu trách nhiệm hình sự

1. Người đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ tội phạm có quy định khác trong Bộ luật này.
2. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và 304 của Bộ luật này.

Như vậy, theo quy định trên thì đối với tội đe dọa chết cá nhân từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự khi phạm tội.
Khách thể của tội đe dọa chết là tính mạng con người và quyền được sống. Mặc dù kẻ tấn công không có ý định giết người khi đe dọa nhưng việc khiến người bị đe dọa sợ hãi và tin rằng mình sẽ bị giết cũng bị coi là vi phạm quyền sống của mình.
Hành vi khách quan của tội đe dọa giết người là hành vi làm cho người bị đe dọa phải khiếp sợ bằng nhiều cách thức, thủ đoạn, thủ đoạn khác nhau như lời nói, hành động, ánh mắt,… Mục đích của người phạm tội khi thốt ra lời đe dọa là làm cho người bị đe dọa tin và sợ bị giết, không thực hiện hành vi giết người.

Hành vi đe dọa của người xâm phạm phải làm cho người bị đe dọa tin rằng hành vi đe dọa sẽ được thực hiện nếu người bị đe dọa không tuân theo ý chí của người xâm phạm. Đó là một đặc điểm đặc trưng của loại tội phạm này. Chính vì mục đích làm cho người bị đe dọa tin rằng kẻ gây hấn sẽ thực hiện hành vi giết người, kẻ gây hấn sẽ cố ý để người bị đe dọa hoặc những người khác mà anh ta biết rằng người này sẽ nói với người bị đe dọa rằng cô ta đang thực hiện một hành vi nào đó. để chuẩn bị cho việc giết người, chẳng hạn như tìm công cụ và phương tiện để giết người. Nếu người phạm tội có hành vi đe dọa nhưng hành vi đó chỉ là phương thức thực hiện tội phạm khác, nhằm mục đích khác thì không phải là tội đe dọa chết. Đối với tội này, người bị đe dọa có thể sợ bị giết và cũng có thể sợ người thân của mình bị giết với điều kiện họ tin rằng hành vi đe dọa của người phạm tội sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Vì vậy, chỉ cần một người phạm tội và hành vi của họ đủ yếu tố cấu thành tội phạm thì sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự chứ không bắt buộc phải có hậu quả.
Theo quy định tại điều 133 BLHS 2015.
"Đầu tiên. Người nào đe dọa giết người, nếu có căn cứ làm cho người bị đe dọa lo sợ việc đe dọa sẽ được thực hiện, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm. năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Đối với 02 người trở lên;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

(c) Chống lại người đang thi hành công vụ hoặc vì công vụ của nạn nhân;

đ) Đối với người dưới 16 tuổi;

đ) Để che giấu hoặc để tránh bị lôi kéo thực hiện tội phạm khác.

Như vậy, tội đe dọa giết người được coi là tội phạm ít nghiêm trọng. Khung hình phạt cơ bản đối với tội này là phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm và được áp dụng đối với trường hợp phạm tội không có tình tiết tăng nặng.
Tình tiết tăng nặng, phạt tù từ 02 năm đến 07 năm, được áp dụng đối với trường hợp phạm tội có một trong các tình tiết tăng nặng quy định tại khoản 2 Điều 133 BLHS 2015, bao gồm: Đối với 2 hoặc thêm người; Lợi dụng chức vụ, quyền hạn; Vì người thi hành công vụ hoặc vì động cơ chính thức của nạn nhân; Đối với trẻ em dưới 16 tuổi; Để che giấu hoặc tránh bị truy tố về một tội phạm khác.

1ddnk

 


Hình phạt của tội đe doạ người khác qua tin nhắn

Tin nhắn được coi là tin nhắn đe dọa giết người khi nội dung thể hiện việc sẽ tước đoạt tính mạng của người nhận tin hoặc người thân thích của họ. Nội dung tin nhắn có thể không đề cập đến cách thức sẽ giết người như thế nào hoặc được mô tả cụ thể là sẽ gây tai nạn giao thông, bắn, đâm hay đốt nhà… song có căn cứ làm cho người bị đe dọa lo sợ rằng việc đe dọa này sẽ được thực hiện

Đặc biệt, nhắn tin đe dọa giết người khi có thêm các yếu tố sau: Giết hai người trở lên; Lợi dụng chức vụ, quyền hạn; Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân; Đối với người dưới 16 tuổi; Để che giấu hoặc trốn tránh việc bị xử lý về một tội phạm khác, thì bị phạt tù từ 02 – 07 năm.
Nhắn tin đe dọa thông thường có thể bị phạt đến 20 triệu đồng
Nếu việc nhắn tin không mang tính đe dọa giết người mà chỉ là những lời đe dọa thông thường nhằm ép buộc người nhận tin nhắn phải thực hiện các yêu cầu của mình thì hành vi này không vi phạm quy định của Bộ luật Hình sự 2015 mà bị xử phạt vi phạm hành chính.
Điểm g khoản 3 Điều 66 Nghị định 174/2013/NĐ-CP quy định mức phạt tiền từ 10 – 20 triệu đồng đối với hành vi sử dụng thông tin số nhằm đe dọa, quấy rối, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức; danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác.
Bị đe dọa qua tin nhắn cần làm gì? Trong trường hợp bị nhắn tin đe dọa, để đảm bảo an toàn cho bạn và người thân; Công dân có thể tố giác hành vi của người gửi tin nhắn đến Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an cấp huyện theo khoản 1 Điều 144 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015.
Trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày nhận được tố giác, tin báo hoặc kiến ​​nghị khởi tố, Cơ quan điều tra, cơ quan có trách nhiệm tiến hành một số hoạt động điều tra phải xem xét, xác minh và ra một trong các văn bản sau: Quyết định: Quyết định khởi tố không khởi tố vụ án hình sự;…

Trường hợp vụ việc tố giác, tin báo về tội phạm hoặc đề nghị khởi tố có nhiều tình tiết phức tạp hoặc phải được kiểm tra, xác minh ở nhiều nơi thì thời hạn giải quyết tố giác, tin báo hoặc đề nghị khởi tố có thể được kéo dài nhưng không được hơn 2 tháng.
Trường hợp hành vi vi phạm chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự thì Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp huyện có quyền ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại Khoản 4 Điều 97 Nghị định 174/2013/NĐ-CP.
Người bị nhắn tin đe dọa cần cung cấp cho cơ quan điều tra tin nhắn đe dọa và các chứng cứ liên quan khác để cơ quan điều tra có thêm thông tin khi xử lý vụ việc.

Mọi người cũng hỏi

Câu hỏi 1: Tin nhắn đe doạ là gì?

Trả lời: Tin nhắn đe doạ là các thông điệp, tin nhắn hoặc nội dung gửi qua điện thoại di động, email hoặc các nền tảng trực tuyến khác có nội dung mang tính trở ngại, uỷ mị hoặc đe dọa đối với người nhận. Những tin nhắn này có thể bao gồm lời lẽ thô tục, đe dọa tới an toàn, danh dự, tài sản của người nhận.

Câu hỏi 2: Tin nhắn đe doạ có thể làm gì đối với người nhận?

Trả lời: Tin nhắn đe doạ có thể gây ra nhiều hậu quả tâm lý và tinh thần đối với người nhận, bao gồm:

  • Áp lực tinh thần: Tin nhắn đe doạ có thể gây áp lực tinh thần nặng nề và tạo ra cảm giác lo lắng, sợ hãi cho cuộc sống hàng ngày của người nhận.

  • Tâm lý bất ổn: Các tin nhắn đe doạ có thể gây ra tâm lý bất ổn, gây rối loạn giấc ngủ và tạo ra sự bất an trong tâm trạng.

  • Cảm giác không an toàn: Người nhận có thể cảm thấy không an toàn về tài sản, thân thể và danh dự của mình nếu những đe dọa liên quan đến những khía cạnh này.

Câu hỏi 3: Làm thế nào để đối phó với tin nhắn đe doạ?

Trả lời: Đối phó với tin nhắn đe doạ cần sự cân nhắc và kết hợp các biện pháp sau:

  • Lưu giữ bằng chứng: Hãy lưu giữ tất cả các tin nhắn đe doạ, ảnh chụp màn hình hoặc tài liệu liên quan như bằng chứng cho các hành động đe dọa.

  • Không phản ứng tức thì: Tránh phản ứng tức thì hoặc gửi lại tin nhắn cho người đe doạ, vì điều này có thể kích thích họ tiếp tục hành vi đe dọa.

  • Báo cáo và tìm sự hỗ trợ: Báo cáo ngay lập tức các tin nhắn đe doạ tới cơ quan thích hợp như cảnh sát, tổ chức mạng xã hội hoặc nhà cung cấp dịch vụ di động. Họ có thể cung cấp hướng dẫn và hỗ trợ cần thiết.

Câu hỏi 4: Tin nhắn đe doạ có thể vi phạm pháp luật không?

Trả lời: Đa phần các loại tin nhắn đe doạ có thể vi phạm pháp luật tùy theo quốc gia và khu vực. Các hành vi đe dọa, quấy rối, phạm pháp hoặc xâm phạm quyền riêng tư thông qua tin nhắn đe doạ thường bị coi là tội phạm và có thể bị truy cứu hình sự hoặc hành chính tùy theo quy định của luật pháp địa phương.

Nội dung bài viết:

    Hãy để lại thông tin để được tư vấn

    comment-blank-solid Bình luận

    084.696.7979 19003330 Báo giá Chat Zalo