Làng xã và "dân chủ" ở làng xã trong truyền thống và lịch sử Việt Nam

Sinh ra ở làng quê, tôi luôn bị “ám ảnh” bởi làng quê. Có lẽ vì thế mà dù được đi đây đi đó nhưng đôi mắt tôi vẫn không thể vượt qua chữ “Làng”. Trong bài viết này, dựa trên những hiểu biết và nghiên cứu của các bậc lão thành trong lĩnh vực nghiên cứu lịch sử - văn hóa, tôi xin có một số nhận xét và bày tỏ mong muốn ở đây về những đổi mới trong quản trị địa phương nhằm mang hơi thở của xu thế hiện đại, nhưng kế thừa những tinh hoa của “làng Việt” - thứ tinh hoa không phải nơi nào trên thế giới này cũng dễ dàng có được. Nghiên cứu làng xã không phải là một đề tài mới, một hướng nghiên cứu mới, nhưng trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc đã có nhiều công trình nghiên cứu công phu về nó. Tuy nhiên, thôn vẫn là một chủ đề hấp dẫn, cấp thiết và có giá trị, nhất là trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách thể chế, dân chủ hóa và định hướng xây dựng tổ chức chính quyền địa phương ở Việt Nam hiện nay. Với ý nghĩa này, cụ Vũ Đình Hòe, trong Hồi ký của Thanh Nghị đã viết: “Muốn hiểu lịch sử hình thành dân tộc Việt Nam thì phải tìm hiểu cộng đồng làng xã, muốn dựng lại nước Việt , cũng phải bắt đầu bằng việc xây dựng lại cộng đồng làng xã. Vì không có làng Việt Nam thì không có nước Việt Nam”.[1]
Tất nhiên, không chỉ ông Vũ Đình Hòe mà giá trị của làng đối với quốc gia, dân tộc Việt Nam đã được nói đến nhiều. Vua Gia Long từng nói: “Quốc là nơi làng xã gặp nhau. Từ làng đến quê, dạy người phải tùy tục. Vua chính ngôi làng trước” hay P. Mus, một học giả và nhà cầm quân người Pháp đầu thế kỷ 20, cũng nhận xét: “Làng là chìa khóa giải mã bí mật của Việt Nam, là kỳ tích của Việt Nam”.[2] Giáo sư Hà Văn Tấn - nhà nghiên cứu lịch sử với nhiều công trình nghiên cứu có giá trị về làng xã, nhận thấy sự liên kết chặt chẽ giữa các làng, liên làng và siêu làng. Mối quan hệ biện chứng chặt chẽ giữa làng, liên làng và siêu làng đã hình thành nên tâm thức cộng đồng các dân tộc Việt Nam.[3]

Mặc dù không đề cập đến làng[4] nhưng điều đó không có nghĩa là Hiến pháp 2013 không chú ý đến yếu tố làng. Với những quy định cơ bản của Chương IX “Chính quyền địa phương”, Hiến pháp đã tạo cơ hội để luật hóa những quy định mới về tổ chức chính quyền địa phương. Và vì vậy, cho dù không phải ở cấp chính quyền thì vai trò và ảnh hưởng của yếu tố thôn bản rất cần thiết trong các nghiên cứu đề xuất xây dựng pháp luật về chính quyền địa phương, nhất là trong bối cảnh chính quyền địa phương phát huy tính tự chủ và tự chịu trách nhiệm và đa dạng hóa mô hình, phương thức tổ chức chính quyền địa phương ở nước ta. Một điều rất thú vị là khi nghiên cứu về làng, các nhà nghiên cứu thường liên tưởng đến vấn đề dân chủ ở làng. Không phải ngẫu nhiên mà lịch sử đã chứng minh ở Việt Nam, làng luôn gắn liền với dân chủ. Dù được thể hiện theo những cách khác nhau, làng xã Việt Nam vẫn là biểu hiện và bảo đảm của dân chủ, khác hẳn với kiểu tổ chức tập trung quyền lực của phương Đông. .[5] Vì vậy, việc nghiên cứu làng xã và dân chủ làng xã có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong bối cảnh mở rộng dân chủ, nhất là dân chủ ở cơ sở và thúc đẩy việc bảo vệ các quyền con người theo tinh thần của Hiến pháp.2013. Về làng quê Việt Nam, GS. Nguyễn Quang Ngọc nhận xét: “Từ thời văn hóa Phùng Nguyên cách ngày nay khoảng 4000 năm, trên đất nước ta đã diễn ra quá trình tan rã của công xã thị tộc và thay vào đó là sự hình thành công xã nông thôn. là quá trình hình thành làng xã Việt Nam. Mỗi làng gồm một số dòng họ cùng chung sống trên một địa bàn nhất định. Ở đây, bên cạnh mối quan hệ địa - huyện, mối quan hệ huyết thống vẫn được bảo tồn và củng cố, hình thành cấu trúc làng - họ, hay cấu trúc họ - làng rất đặc trưng ở Việt Nam. Lúc này, tất cả ruộng cày cũng như rừng núi, sông ngòi, ao đầm trong làng đều thuộc quyền sở hữu của làng. Đất đai của làng được chia cho các gia đình thành viên sử dụng theo tập quán bình đẳng, dân chủ của cộng đồng làng và có thể chia một lần, sau đó gộp lại và điều chỉnh khi cần thiết. Đơn vị sản xuất chính của làng là hộ gia đình nhỏ. Ngoài ruộng đất giao cho xã viên canh tác, thôn được giữ lại một phần ruộng đất để sản xuất chung lấy thu hoạch làm chi tiêu công. Việc khai hoang, làm thủy lợi và các hình thức công ích khác được thực hiện bằng lao động hợp tác của các thành viên trong làng. Làng Việt như vậy là một kiểu xã Phương Đông, nông nghiệp gắn liền với thủ công nghiệp, làng gắn liền với ruộng đất nên tự nó rất ổn định. Sự ổn định lớn lao này đã biến thành tinh thần cộng đồng, thành truyền thống làng xã, để nó trở thành nguồn sức mạnh tiềm tàng trong cuộc chiến ngàn năm chống lại các hình thức nô dịch và đồng hóa của phương Bắc”.[6]
Trên cơ sở nghiên cứu của mình, Giáo sư Nguyễn Quang Ngọc đã nêu bật một số đặc điểm cơ bản của làng Việt như sau:
-Thứ nhất, làng nào cũng có một khu vực nhất định được coi là không gian sinh tồn, bao gồm nhà ở, ruộng đồng, đồi núi, sông ngòi, ao hồ... do cộng đồng làng hoặc các thành viên trong cộng đồng làng sử dụng.
- Thứ hai, cư dân trong làng là thành viên của một cộng đồng gắn bó với nhau bằng nhiều mối quan hệ như tình làng nghĩa xóm (làng, xóm, ngõ xóm...), quan hệ huyết thống (gia đình, dòng tộc,...) , quan hệ nghề nghiệp, quan hệ tín ngưỡng, quan hệ tương trợ (huyện, hội, dòng họ...)... - Thứ ba, về mặt văn hóa, mỗi làng thường có một ngôi đình để thờ đức vua, có chùa, đền, miếu, xá, hàng quán, cơ sở sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng, lễ hội chung (riêng các làng theo đạo Thiên chúa sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng tập trung tại nhà thờ). - Thứ tư, về mặt quản lý thời kỳ đầu có thể chỉ là hội đồng già làng, chủ yếu tổ chức, quản lý theo tục, sau đó đến Hội đồng kỳ mục rồi Hội đồng tộc biểu..., quản lý thông qua hương ước.[7]
Như vậy, làng không có nghĩa chỉ là đơn vị quản lý lý ở một phạm vi lãnh thổ nhất định. Làng Việt đặc trưng ở chỗ đó là sự gắn kết tự nhiên của cộng đồng người mà thông thường có quan hệ họ hàng than thích hoặc gần gũi, làng xóm láng giềng với những truyền thống, tập quán sinh hoạt cộng đồng, tín ngường chung. Làng Việt còn là đơn vị sản xuất độc lập có thể tự cung tự cấp, có ruộng đất, tải sản chung của làng, có cơ quan quản lý với những quy định, quy ước được thiết lập, đặt ra để tổ chức, quản lý cuộc sống của làng. Xét ở góc độ này, làng Việt không chỉ được coi như là đơn vị tụ cư rất bền vừng mà còn mang dáng dấp của một quốc gia thu nhỏ. Nói như Lorin, một nhà nghiên cứu người Pháp: “Thời tiền cổ Việt Nam là một liên bang gồm hơn 2000 tiểu vương quốc”[8] hay như nhận định của Toàn quyền Đông Dương Piere Pasquieu: “Làng hợp thành một khối hoàn bị đến nỗi người ta không thể sửa đổi một điểm nhỏ nào… Chúng ta không có ích, lợi gì mà đả phá trực tiếp hoặc gián tiếp một cơ quan hiện là một lợi khí màu nhiệm miễn ta nên để nó nguyên vẹn tôn trọng các hình thức của nó”.[9]
Khác với làng, “làng xã” là thuật ngữ xuất hiện muộn hơn. Và theo GS. Nguyễn Quang Ngọc: “Làng là đơn vị nhà ở, đơn vị kinh tế, đơn vị sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng cộng đồng, đơn vị hành chính cơ sở (ở đây đang nói trường hợp của thời thuộc địa). làng ở đầu một đô thị). Thành ngữ “xã làng” rất phổ biến, thậm chí nhiều người còn cho rằng làng xã là một và có cùng một nguồn gốc từ rất lâu đời. Trên thực tế, khái niệm “làng” mới chỉ xuất hiện từ thế kỷ thứ 7, nhưng chắc chắn sẽ phải đợi đến thế kỷ thứ 10, sau khi cấp thành phố chính thức xuất hiện, thì điều kiện mới trở nên phổ biến trong xã hội.
Mặc dù còn nhiều ý kiến ​​khác nhau về thuật ngữ này, nhưng tác giả đồng tình với quan niệm trên và cũng cho rằng thuật ngữ “làng” có nhiều điểm tương đồng với thuật ngữ “làng” nhưng được đưa ra sau này. Hơn nữa, thuật ngữ “làng” cũng được sử dụng khá phổ biến để chỉ cấp quản lý thấp nhất khi nói chung. Ở đây cũng có sự khác biệt là làng đôi khi còn được coi là cấp chính quyền cơ sở trong hệ thống quản lý của chính quyền thực dân cũng như chính quyền phong kiến ​​Việt Nam. Nói đến “dân chủ” ở làng xã, trước hết tác giả khẳng định điều đó. Thuật ngữ "dân chủ" được sử dụng theo nghĩa phi truyền thống, không hoàn toàn theo cách hiểu hiện nay. Bởi vì, trong bối cảnh xã hội bị đô hộ hoặc dưới phương thức quản lý nhà nước thời phong kiến ​​của Việt Nam, thuật ngữ “dân chủ” khó có thể được hiểu theo nghĩa “là một phương thức tổ chức quyền lực trong đó nhân dân là bậc thầy". của quyền lực". Mặc dù dân chủ được hiểu trên nhiều phương diện như: chính trị, luật pháp, triết học, kinh tế, quan hệ quốc tế, v.v., nhưng trong xã hội tiền phong kiến, phong kiến ​​và thuộc địa ở Việt Nam, việc hiểu dân chủ cũng gặp nhiều khó khăn. để hiểu “dân chủ” lúc bấy giờ theo nghĩa hiện tại. Thuật ngữ “dân chủ làng xã” mà tác giả sử dụng trong bài viết này nhằm mô tả một kiểu tổ chức quản lý đặc thù của làng xã Việt Nam trong lịch sử. Là hình thức tổ chức có sự tham gia rộng rãi của các thành viên trong làng, có tính tự quản, tự chủ lớn về đời sống vật chất, quản lý và đời sống tinh thần, tâm linh. “Dân chủ” ở đây còn được hiểu rộng rãi là sự đề cao vai trò của nhân dân, của cộng đồng làng xã trong việc giải quyết các công việc trọng đại của quốc gia.[11]
Trên cơ sở nghiên cứu và tham khảo các nghiên cứu của các bậc tiền bối, tác giả cho rằng dân chủ làng xã ở Việt Nam theo truyền thống được quy định bởi các yếu tố sau:
Thứ nhất, quyền tự chủ, tự quản của làng. - Tuy tự quản, tự quản không hoàn toàn đồng nghĩa với dân chủ,[12] nhưng tính chất tự quản, tự quản của làng xã Việt Nam từ trước đến nay là một yếu tố có tác động rất lớn đến dân chủ. Theo GS. Tính tự quản, tự quản này của Phan Đại Doãn bắt nguồn từ hệ thống ruộng đất: “Quy chế tự trị của làng xã có nguồn gốc từ xa xưa, nhưng việc thiết lập chế độ quân điền và xuất hiện thêm các quan hệ cộng đồng trong làng xã. làm cho nó thậm chí còn củng cố hơn. Việc chia ruộng đất cần phải có tổ chức đại diện các họ, các họ cũng như các hội đồng địa tô để đảm bảo việc chia là hợp lý và tương đối công bằng. Bộ phận này có lệ làng riêng, đôi khi không phù hợp với lệ quân nhà nước. Chế độ quân điền 3 năm một lần của Gia Long nhưng nhiều làng kéo dài đến 4 năm. Ngoài phần ruộng đất chia cho dân, làng còn để lại đất ở giáp ranh, ở chùa, ở đình, ở hội Từ Văn, ở các phiên dịch của xã trưởng ở mu - đó. trung ương không kiểm soát được. Như vậy, tính tự trị của làng xã được duy trì một phần nhờ chế độ quân điền. Điều này có lẽ cũng hợp lý, bởi làng có ruộng đất riêng - tài sản, tư liệu quan trọng nhất của xã hội phong kiến, giúp làng độc lập, tự chủ hơn so với triều đình phong kiến. . Có ruộng đất, các làng, xã có thể tự lo, sản xuất, kinh doanh, bàn bạc, giúp đỡ nhau trong việc tạo ra của cải vật chất nuôi sống bản thân và gia đình, đồng thời góp phần giải quyết nhu cầu chung của nhân dân. . làng như làm đẹp đường xá, cầu cống, đền chùa, trang trí, thực hiện các nghi lễ tôn giáo bằng tài sản do làng tạo ra. Có đất canh tác làm tăng tính độc lập và tự chủ của làng xã, do đó có quyền tự quyết cao hơn. Bên cạnh đất đai, tính tự quản, tự quản còn thể hiện ở việc các làng thường lập hương ước, hương ước riêng để thiết lập các quy tắc, chuẩn mực cho dân làng trong ứng xử cộng đồng và giải quyết các công việc công. Khác với luật nhà nước, hương ước là những quy tắc chuẩn mực do dân làng lập ra. Nguồn gốc của những hương ước này có thể là những chuẩn mực đạo đức, tục lệ, tín ngưỡng, thói quen trong sinh hoạt cộng đồng được truyền từ đời này sang đời khác. Các hương ước này nhằm thiết lập các tiêu chuẩn ứng xử và quy tắc quản lý phù hợp với điều kiện, mong muốn và nhu cầu của người dân địa phương. Việc áp dụng các quy tắc và chuẩn mực này cũng được đảm bảo bằng một hệ thống các biện pháp, bao gồm cả các hình thức cưỡng chế thông thường. Đôi khi hiệp ước cũng cần có sự chấp thuận của chính phủ. Nhưng quan trọng hơn hết, hương ước, lệ làng là tiếng nói của toàn thể dân làng, là sản phẩm của sự kết ước và ý chí chung, chứ không phải là sản phẩm ngoại lai của sự áp đặt, cưỡng bức như pháp luật của triều đình. Không chỉ có hương ước, lệ làng, làng quê Việt Nam còn có nhiều cái “lệ” của hội đoàn, xóm giềng trong quan hệ sản xuất, kinh doanh. - Tính tự chủ, tự quản còn thể hiện ở tính tự tổ chức, quản lý của làng. Ở mỗi thời kỳ khác nhau, việc tổ chức và quản lý làng không giống nhau. Nhưng nhìn chung, việc quản lý ở các làng là tự chủ, tự quản. Trưởng thôn nói chung không phải là công chức mà là người địa phương, thậm chí là người dân địa phương bầu ra. Ngoài chức xã trưởng, trong làng còn có các cơ quan đại diện, đại diện hoặc quản lý cộng đồng như Hội đồng trị sự, Hội đồng trưởng lão, họp toàn làng, v.v. 13]
Thứ hai, việc khai khẩn làng Việt
Thông thường, nhắc đến làng quê Việt Nam, nhiều người nghĩ ngay đến nếp sjw tự cung, tự cấp, làng quê “núp sau lũy tre xanh”, lặng lẽ sau “cổng làng”. Điều này không sai nhưng nó chưa phản ánh toàn diện làng quê Việt Nam. Tác giả cho rằng Giáo sư Phan Đại Doãn đã có nhận định đúng khi cho rằng không nên gọi làng là xã.[14] Việt Nam không có công xã theo nghĩa công xã thị tộc, công xã nông thôn hay công xã thị tộc như đã từng tồn tại ở nhiều nơi trong lịch sử. Đúng vậy, làng Việt Nam không hoàn toàn là một tập thể dân tộc gồm một hay một số thị tộc, gia đình. Làng quê Việt Nam cũng không phải là nơi có mô hình sản xuất kiểu công xã nông thôn. Làng Việt Nam rất chặt chẽ, nhưng đa nguyên. Làng Việt đôi khi chỉ bao gồm một số gia đình lớn, nhưng Làng Việt không loại trừ các gia đình khác. Làng Việt là nơi cư dân có thể tham gia và sinh sống công bằng miễn là họ tuân theo các quy tắc và tiêu chuẩn của Làng. Có làng người Việt tứ xứ đến sinh sống. Cổng làng với lũy tre đôi khi được dùng làm nơi trú ẩn cho những người bị triều đình truy nã và quan quân. Làng Việt Nam rất cởi mở, làng Việt Nam không có tổ chức thị tộc. Làng quê Việt Nam không phải là xã nông thôn mà là nơi sản xuất tiểu nông. Mỗi dòng họ, mỗi hộ gia đình là một chủ thể kinh tế độc lập với làng. Ngoài đất làng, mỗi nhà đều có đất riêng để “xẻ thịt” sản xuất, mở mang. Kết quả là các thành viên trong làng độc lập và dễ dàng tiếp nhận thành viên mới. Thứ ba, đặc điểm quan hệ trong làng xã Việt Nam. Yếu tố này có quan hệ mật thiết với các yếu tố đã nêu ở trên. Ở làng Việt Nam đâu chỉ có quan hệ họ hàng, huyết thống. Nhưng điều quan trọng nhất là mối quan hệ này thuộc kiểu “tình làng, nghĩa xóm”. Mối quan hệ này được hun đúc bởi nhu cầu cuộc sống, nhu cầu nương tựa vào nhau những lúc “trái gió trở trời”. Các thành viên trong làng cần nhau trong những việc lớn của gia đình như hiếu, hỷ, tang, lễ, tết ​​hay cùng nhau giúp dựng nhà, lập nơi ở hay cùng nhau gánh vác việc công. công việc cộng đồng. Không phải không coi trọng dòng tộc, nhưng câu tục ngữ “Bán anh em xa mua láng giềng gần” đã nói lên phần nào nét đặc thù của mối quan hệ này ở làng quê Việt Nam. Mối quan hệ làng xóm cũng như quan hệ họ tộc phần nào nói lên tính bình đẳng, có đi có lại, bình đẳng trong các mối quan hệ của người Việt. Ở Làng không phải không có thứ bậc, nhưng tính phổ biến của các quan hệ tương thân tương ái này tạo nên tính dân chủ cao hơn, tính nhân văn cao hơn so với những nơi mà tính thứ bậc trong quan hệ cao hơn: người thân, gia đình, quyền lực vẫn ngự trị. . [1] Vũ Đình Hòe, Hồi ký Thanh Nghị, Nxb. Hanoï, Hanoï, 1997. Tr 318. [2] Tham khảo lời giới thiệu sách của GS. TS Nguyễn Quang Ngọc “Làng - Đa nguyên và Chia rẽ”. Nhà xuất bản. ĐHQGHN, 2006. [3] Hà Văn Tấn: Làng, liên làng và siêu làng (Vài suy nghĩ về phương pháp) // Một chặng đường nghiên cứu lịch sử (1995-2000), Nxb Chính trị quốc gia, H., 2000, tr. 51-58. [4] TS Võ Trí Hảo từng bàn (hay đúng hơn là than thở) “Làng không có chỗ trong Hiến pháp”. Xem tại: http://hienphap.net/2013/05/12/lang-khong-co-cho-trong-hien-phap-vo-tri-hao/. [5] Điều này đã được khẳng định qua nhiều công trình nghiên cứu của các nhà sử học, nhà sùng bái, luật gia như Hà Văn Tấn, Trần Quốc Vượng, Phan Huy Lê, Phan Đại Doãn, Nguyễn Quang Ngọc, Nguyễn Đăng Dung...
[6] Nguyễn Quang Ngọc, Quan hệ quốc - làng. Quá trình lịch sử và bài học kinh nghiệm. Xem tại: http://khoalichsu.edu.vn/bai-nghien-cu/383-quan-h-nha-nc-lang-xa-qua-trinh-lch-s-va-bai-hc-king-nghim -gsts-nguyn-quang-ngc.html. [7] Nguyễn Quang Ngọc, Tài liệu tham khảo. Xem tại: http://khoalichsu.edu.vn/bai-nghien-cu/383-quan-h-nha-nc-lang-xa-qua-trinh-lch-s-va-bai-hc-king-nghim -gsts-nguyn-quang-ngc.html. [8] Trích: Nguyễn Minh Tuấn, Dân chủ ở xã dưới góc nhìn pháp lý. Nhà xuất bản. CAND, Hà Nội, 2006. tr.46. [9] Nguyễn Đăng Dung, Dân chủ ở làng xã – những vấn đề cần nghiên cứu thêm. Nhà nước và Pháp luật, 1998. tr.6.
[10] Nguyễn Quang Ngọc, Tài liệu tham khảo. Xem tại: http://khoalichsu.edu.vn/bai-nghien-cu/383-quan-h-nha-nc-lang-xa-qua-trinh-lch-s-va-bai-hc-king-nghim -gsts-nguyn-quang-ngc.html.
[11] Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, khác với nhiều nước trong khu vực, trong các triều đại phong kiến ​​Việt Nam cũng như trong tư tưởng của các vua quan Việt Nam, thứ dân không hoàn toàn đồng nghĩa với dân đen mà thứ dân đôi khi có vai trò đặc biệt quan trọng. . vai trò như “lật thuyền, giữ thuyền”, nhà vua hỏi ý kiến ​​nhân dân trong những công việc trọng đại của quốc gia như Hội nghị Diên Hồng... (Xem thêm: Nguyễn Minh Tuấn, Dân chủ ở xã quan điểm pháp luật Sđd , tr.23-46)
[12] Về vấn đề này, tác giả Nguyễn Việt Hương cũng đã đề cập trong “Dân chủ làng xã: Truyền thống và hiện tại” Tạp chí NNPL số 8 (196), 2004. Theo đó, tác giả Việt Hương cho rằng "Dân chủ khác với tự trị. Tự quản có thể là chính trị, chính trị hoặc phi chính trị. Trong khi dân chủ luôn là một khái niệm chính trị.
[13] Xem: http://en.wikipedia.org/wiki/Village
[14] Phan Đại Doãn, Làng Việt Nam, Đa nguyên và chia rẽ, Nxb. UNV, 2006, tr.7-24.

Nội dung bài viết:

    Hãy để lại thông tin để được tư vấn

    comment-blank-solid Bình luận

    084.696.7979 19003330 Báo giá Chat Zalo