Đặc điểm của tổ hợp tác như thế nào?

Mô hình tổ hợp tác có nhiều tên gọi: tổ hợp tác,  hội nghề nghiệp, câu lạc bộ... Tổ hợp tác là gì? Đặc điểm của tổ hợp tác là gì? 

đặc điểm của tổ hợp tác
đặc điểm của tổ hợp tác

 1. Khái niệm tổ hợp tác 

 Trong những năm gần đây ở nước ta, mô hình tổ hợp tác với nhiều tên gọi: tổ hợp tác, hiệp hội ngành, câu lạc bộ, nhóm sản phẩm, liên hiệp tín dụng... đã phát triển mạnh  ở khắp các vùng miền, cả nước và tập trung chủ yếu ở khu vực nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, tín dụng, vốn vay  và các vùng có nền kinh tế thị trường phát triển. Có thể nói, đó là mô hình phổ biến, phù hợp với nguyện vọng, điều kiện của người dân và trình độ phát triển kinh tế - xã hội của nhiều vùng, hoạt động thiết thực vì lợi ích  kinh tế - xã hội của các thành viên. 

  Đảng và nhà nước ta  luôn quan tâm  phát triển mô hình này và coi đây là một trong hai mô hình kinh tế tập thể quan trọng cần được củng cố và nhân rộng trong đời sống kinh doanh, thương mại.  Ý tưởng thành lập mô hình kinh tế dưới hình thức tổ hợp tác đã xuất hiện từ rất sớm ở Việt Nam, nhưng phải đến khi Bộ luật Dân sự ra đời, tổ hợp tác mới chính thức được thừa nhận là chủ thể của quan hệ dân sự. Nhưng trải qua nhiều giai đoạn, đến nay địa vị pháp lý của tổ hợp tác cũng có nhiều  thay đổi. 

 

 Theo quy định tại khoản 1 Điều 120 BLDS năm 1995 và khoản 1 Điều 110 BLDS năm 2005 thì: “Tổ hợp tác được hình thành trên cơ sở hợp đồng hợp tác có xác nhận của phổ biến trong cộng đồng. hoặc xã từ ba người trở lên cùng đóng góp tài sản, công sức để thực hiện  công việc nhất định, cùng hưởng lợi và cùng chịu trách nhiệm với tư cách là chủ thể trong  quan hệ dân sự. 

 

 Điều 1 Nghị định 151/2007/NĐ-CP ngày 10/10/2007 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của tổ hợp tác cũng quy định: “Nghị định này quy định về tổ chức và hoạt động của tổ hợp tác đã được Chính phủ phê duyệt. trên cơ sở hợp đồng hợp tác có xác nhận của Uỷ ban nhân dân xã, huyện, quận (gọi tắt là Uỷ ban nhân dân cấp xã) của  ba người trở lên, cùng  góp tài sản, công sức để thực hiện  công việc nhất định, vì lợi ích chung. lợi ích và  trách nhiệm chung”. 

 

 – Ở đây, pháp luật Việt Nam không đưa ra khái niệm chung về tổ hợp tác là gì mà chỉ đưa ra các điều kiện để  thành lập tổ hợp tác. Trong giai đoạn này, tổ hợp tác là  chủ thể của luật dân sự, nó chỉ trở thành  chủ thể thương mại khi có nhu cầu hoạt động thương mại và đáp ứng đầy đủ các quy định của pháp luật. 

 

 Tuy nhiên, khi Bộ luật Dân sự  2015 được ban hành và có hiệu lực từ ngày 01/01/2017, địa vị pháp lý của tổ hợp tác đã thay đổi hoàn toàn. Pháp luật không coi tổ hợp tác là  chủ thể của luật dân sự nên không đưa ra  khái niệm  về chủ thể này. Vì các nhà lập pháp cho rằng chỉ có thể nhân và pháp nhân mới là chủ thể của quan hệ dân sự. Trên thực tế, hoạt động của tổ hợp tác cũng  được thực hiện hoàn toàn thông qua hoạt động của các cá nhân.  Do đó, pháp luật dân sự chỉ công nhận đối tượng của quan hệ dân sự là các thành viên của tổ hợp tác  chứ không phải tổ hợp tác và quy định  phần liên quan đến hoạt động của tổ hợp tác thành một phần riêng liên quan đến “hợp đồng hợp tác” (để điều 8 chương XVI  Bộ luật Dân sự năm 2015). 

  Theo quy định tại Điều 504  Bộ luật Dân sự năm 2015: “Hợp đồng cộng tác là sự thỏa thuận giữa các thể nhân và pháp nhân để cùng đóng góp tài sản, công sức vào việc thực hiện công việc nhất định, cùng hưởng lợi và có trách nhiệm đối với các bên”. Cụ thể: Điều 101 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “1. Trong trường hợp hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân tham gia quan hệ dân sự thì  thành viên của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân phải chịu tham gia xác lập, thực hiện giao dịch dân sự hoặc ủy quyền cho người đại diện tham gia xác lập, thực hiện giao dịch dân sự. 

 Tuy nhiên, Điều 103 Bộ luật Dân sự  2015 lại quy định, nghĩa vụ dân sự phát sinh từ việc tham gia quan hệ dân sự của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân được bảo đảm  bằng tài sản chung của các thành viên. Khi các thành viên hợp danh không có hoặc không có đủ tài sản chung để thực hiện nghĩa vụ liên đới thì chủ nợ có quyền  yêu cầu các thành viên hợp danh thực hiện các nghĩa vụ  quy định tại Điều 288 của Bộ luật liên đới và nghĩa vụ chung. 

 Trường hợp các bên không có thỏa thuận, hợp đồng hợp tác hoặc pháp luật không có quy định khác thì các bên phải chịu trách nhiệm dân sự đối với phần tương ứng với phần mình góp trong di sản, nếu không xác định được phần này theo phần tương ứng. . 

 

 Có thể thấy, quan điểm này còn mới và chưa được triển khai rộng rãi, nhưng nhìn từ thực tiễn hoạt động kinh doanh, số lượng các tổ hợp tác  hoạt động sản xuất kinh doanh  ngày càng nhiều và  là một trong những mô hình chủ lực của trong phong trào xây dựng nông thôn mới, cũng cần lưu ý đề cập đến tư cách chủ thể đối với tổ hợp tác  và các quy định pháp luật cụ thể về chủ thể này. 

 

 Căn cứ vào quan điểm lập pháp và thực tế hoạt động  của vấn đề này,  có thể hiểu một cách tổng quát, tổ hợp tác với tư cách là một pháp nhân thương mại được hiểu là một hình thức liên kết đơn thuần giữa các công ty, cá nhân thông qua hợp đồng hợp tác, cùng nhau góp vốn. cùng nỗ lực kinh doanh, cùng có lợi và cùng chịu trách nhiệm về mọi hoạt động của Tổ hợp tác. 

 

 2. Đặc điểm pháp lý của tổ hợp tác 

 -Một là: Về thành viên  tổ hợp tác 

 Tổ viên của tổ hợp tác là người từ đủ 18 tuổi trở lên có đầy đủ năng lực hành vi dân sự  theo quy định của pháp luật. Tổ hợp tác phải có ít nhất từ ​​03 thành viên trở lên, tự nguyện tham gia và đồng ý với nội dung  hợp đồng hợp tác. Để tiến hành các hoạt động kinh doanh, các thành viên bầu ra một người  đại diện, người này thường được gọi là trưởng nhóm. Tổ trưởng tổ hợp tác thay mặt  tổ hợp tác thực hiện các quyền và nghĩa vụ hợp pháp  của tổ hợp tác nhưng không có nghĩa là phải chịu trách nhiệm thay cho  tổ viên. Thông thường, các thành viên có quyền bình đẳng trong việc tham gia quyết định  công việc của tổ hợp tác. Mọi lợi ích hay  trách nhiệm, rủi ro phát sinh từ hoạt động của tổ hợp tác sẽ được phân chia cho  các thành viên theo cam kết, thỏa thuận mà họ xác lập. 

 

 -Thứ hai: Về hợp đồng hợp tác 

 

 Hợp đồng hợp tác là cơ sở hình thành  mối quan hệ giữa các thành viên trong tổ hợp tác. Cũng  như các loại hợp đồng khác, hợp đồng hợp tác là sự thỏa thuận  trên cơ sở tự nguyện, thống nhất ý chí của các thành viên về mọi vấn đề liên quan đến tổ chức và hoạt động của tổ hợp tác. Do pháp luật  tương đối ít nói về tổ hợp tác nên hợp đồng hợp tác xã cũng được coi là quy tắc nội bộ tác động đến quyền và nghĩa vụ của các thành viên. Các thành viên có thể đồng ý với bất cứ điều gì  họ cho là cần thiết trong  hợp đồng này. Tuy nhiên, để đảm bảo hoạt động của tổ hợp tác thì trong hợp đồng hợp tác thường phải có những nội dung chủ yếu như: Mục đích, thời hạn hợp tác; Họ, tên, nơi cư trú của cá nhân; Tài sản đóng góp, nếu có; Đóng góp bằng sức lao động, nếu có; Phương thức phân chia hoa lợi, lợi tức; Quyền, nghĩa vụ của thành viên hợp tác; Quyền, nghĩa vụ của người đại diện, nếu có; Điều kiện tham gia và rút khỏi hợp đồng hợp tác của thành viên, nếu có; Điều kiện chấm dứt hợp tác… Hợp đồng hợp tác phải được lập thành văn bản, và phải có chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã, phường, thị trấn. 

 

 -Ba là: Về tài sản của tổ hợp tác 

 Nguồn hình thành tài sản của tổ hợp tác có thể từ: Tài sản đóng góp của tổ viên tổ hợp tác bao gồm: vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản; Phần được trích từ hoa lợi, lợi tức sau thuế để tăng vốn; Các tài sản cùng tạo lập và được tặng, cho chung; Tài sản khác theo quy định của pháp luật. Và tài sản tổ hợp tác được phân rõ thành hai loại: loại tài sản do từng tổ viên góp và sẽ trả lại khi tổ viên đó ra khỏi tổ hợp tác và loại tài sản không chia cho các tổ viên khi tổ viên ra khỏi tổ hợp tác. Việc quản lý và sử dụng tài sản của tổ hợp tác được thực hiện theo phương thức thoả thuận. Việc định đoạt tài sản là tư liệu sản xuất của tổ hợp tác phải được toàn thể tổ viên đồng ý; đối với các loại tài sản khác sẽ được thông qua theo nguyên tắc đa số. 

-Thứ tư: Về phương thức chịu trách nhiệm gia sản của tổ hợp tác 

 Cũng giống như hộ kinh doanh, do không có sự tách biệt tài sản giữa tổ hợp tác và  các thành viên nên các thành viên của tổ hợp tác sẽ phải chịu trách nhiệm liên đới và vô hạn về mọi hoạt động của tổ hợp tác. Trong trường hợp tài sản của tổ hợp tác không đủ để trả nợ thì các thành viên phải cùng nhau góp vốn theo thỏa thuận  ghi trong hợp đồng hợp tác để trả hết  nợ.  

 3. Đăng ký kinh doanh đối với tổ hợp tác 

 Tổ hợp tác trong khuôn khổ hoạt động thương mại của mình cũng sẽ  chịu sự quản lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Tuy nhiên, khác với hộ kinh doanh, tổ hợp tác không phải thực hiện hoạt động đăng ký kinh doanh tại cơ quan đăng ký kinh doanh mà chỉ phải thực hiện thủ tục hành chính, tức là xin giấy xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. để có thể  thực hiện một hoạt động thương mại. Theo quy định tại Nghị định 151/2007/NĐ-CP ngày 10/10/2007 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của tổ hợp tác: UBND cấp xã chứng thực hoặc xác nhận lại (ký xác nhận, đóng dấu) vào tổ hợp tác hợp đồng  hoặc hợp đồng liên kết được chỉnh sửa, hoàn thiện và ghi vào sổ theo dõi trong thời hạn tối đa 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hợp đồng hợp tác của nhóm với nội dung phù hợp với quy định. 

 

 Án Lệnh. Trường hợp Ủy ban nhân dân cấp xã không xác nhận hợp đồng hợp tác thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. 

 

 Đối với  tổ hợp tác được tổ chức và hoạt động theo quy mô liên xã thì tổ có quyền lựa chọn nơi chứng thực hợp đồng hợp tác phù hợp với quy mô tổ chức và hoạt động của tổ hợp tác. 

 

 Khi thực hiện các hoạt động thương mại, các tổ hợp tác cũng phải tôn trọng các quy định liên quan đến lĩnh vực hoạt động: chỉ được phép thực hiện các hoạt động của mình trong những lĩnh vực mà pháp luật không cấm. Đối với  ngành nghề kinh doanh có điều kiện, tổ hợp tác khi hoạt động cũng phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện này.

 

Nội dung bài viết:

    Hãy để lại thông tin để được tư vấn

    comment-blank-solid Bình luận

    084.696.7979 19003330 Báo giá Chat Zalo