1. Kết hôn là gì?
Theo quy định, kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn. Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính. Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên.
2. Thế nào là cưỡng ép kết hôn?
Cưỡng ép kết hôn là dùng mọi thủ đoạn bắt buộc người khác (bên nam, bên nữ hoặc cả hai bên) phải kết hôn trái với ý muốn của họ. Hành vi cưỡng ép kết hôn được thực hiện bằng nhiều thủ đoạn khác nhau như hành hạ, ngược đãi, uy hiếp tinh thần, yêu sách của cải hoặc thủ đoạn khác. Cụ thể:
+ Hành hạ, ngược đãi là đối xử tàn ác, tồi tệ đối với người khác gây đau khổ về thể xác hoặc tinh thần kéo dài, như: thường xuyên đánh đập (có thể không gây thương tích), giam hãm, bắt nhịn ăn, nhịn uống, bắt chịu rét, nhiếc móc, làm nhục v.v… nhằm mục đích cưỡng ép việc kết hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ. Cần lưu ý rằng, hành vi hành hạ, ngược đãi là thủ đoạn của tội cưỡng ép kết hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, cho nên không truy cứu trách nhiệm hình sự thêm về tội hành hạ, ngược đãi quy định tại Điều 110 hoặc Điều 151 Bộ luật hình sự.
+ Uy hiếp tinh thần là đe dọa sẽ gây thiệt hại đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, tài sản hoặc lợi ích thiết thân của người bị đe doạ làm cho người đó có căn cứ để lo sợ thực sự mà phải chịu khuất phục như đe doạ sẽ đốt nhà, giết người thân, tiết lộ bí mật đời tư của người bị đe doạ, bố mẹ hoặc người thân trong gia đình đe doạ sẽ tự tử nếu hai bên nam nữ lấy nhau, con đe doạ là sẽ bỏ nhà hoặc tự tử nếu bố, mẹ lấy vợ, lấy chồng mới v.v…
+ Yêu sách của cải là đòi hỏi của cải một cách quá đáng, không nhân nhượng và coi đó là một trong những điều kiện để được kết hôn nhằm cản trở hôn nhân tự nguyện giữa đôi bên nam nữ.
+ Thủ đoạn khác có thể là buộc một bên hoặc cả hai bên đi xa nhằm chia rẽ họ; bắt cóc người không muốn lấy mình làm vợ hoặc làm chồng để buộc họ phải kết hôn trái ý muốn; một bên gia đình tiến hành dựng vợ, gả chồng cho người thân của mình với người khác trái với ý muốn của người đó nhằm chia rẽ người thân đó với người mà họ muốn tự nguyện kết hôn; v.v…
Do đó để bảo vệ những cá nhân bị ép kết hôn như trên thì pháp luật nước ta đã quy định rõ về khái niệm cưỡng ép kết hôn và chế tài xử lý. Đồng thời người bị cưỡng ép kết hôn có thể yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền hủy bỏ kết hôn trái pháp luật.
3. Cưỡng ép kết hôn bị phạt như thế nào theo quy định năm 2022?

Theo quy định tại Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, việc kết hôn phải do nam nữ tự nguyện quyết định. Hành vi cưỡng ép kết hôn là một trong những hành vi bị pháp luật cấm theo quy định tại Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.
Xử phạt hành chính
Luật Hôn nhân gia đình 2014 đã quy định về việc cấm cưỡng ép kết hôn; cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ. Vì vậy, Chính phủ quy định mức xử phạt vi phạm hành chính người có hành vi cưỡng ép kết hôn như sau:
“Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
- Cưỡng ép người khác kết hôn, ly hôn, tảo hôn bằng cách hành hạ, ngược đãi, uy hiếp tinh thần hoặc bằng thủ đoạn khác.
- Cản trở người khác kết hôn, ly hôn, cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ bằng cách hành hạ, ngược đãi, uy hiếp tinh thần, yêu sách của cải hoặc bằng thủ đoạn khác”.
Theo đó, đối với hành vi hành hạ, ngược đãi, uy hiếp tinh thần hoặc các thủ đoạn khác để cưỡng ép người khác kết hôn thì bị phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng theo quy định.
Truy cứu trách nhiệm hình sự
Ngoài ra, nếu hành vi cưỡng ép kết hôn đã bị xử phạt hành chính nhưng vẫn cố tình tái phạm thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Cụ thể, theo quy định tại Điều 181 Bộ luật hình sự 2015 thì:
“Người nào cưỡng ép người khác kết hôn trái với sự tự nguyện của họ, cản trở người khác kết hôn hoặc duy trì quan hệ hôn nhân tự nguyện, tiến bộ hoặc cưỡng ép hoặc cản trở người khác ly hôn bằng cách hành hạ, ngược đãi, uy hiếp tinh thần, yêu sách của cải hoặc bằng thủ đoạn khác, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 03 năm.”
Theo đó, tại Điều 181 Bộ luật Hình sự 2015 thì nếu người nào có hành vi cưỡng ép kết hôn đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm thì sẽ bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 03 năm.
Trong những trường hợp này, người bị cưỡng ép kết hôn có quyền tự mình yêu cầu hoặc đề nghị các cá nhân, tổ chức sau đây yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật:
– Cha, mẹ, con, người giám hộ hoặc người đại diện theo pháp luật khác
– Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình
– Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em
– Hội liên hiệp phụ nữ
Nội dung bài viết:
Bình luận