02 trường hợp công an được thu giữ, kiểm tra điện thoại công dân

Công an có được thu giữ, kiểm tra điện thoại của người dân? Nếu có thì được quyền thu giữ, kiểm tra trong những trường hợp nào? - Hoàng Vũ (Quảng Bình)
02 trường hợp công an được thu giữ, kiểm tra điện thoại công dân

Về vấn đề này, ACC xin trả lời như sau:

1. Quyền được pháp luật bảo hộ về thư tín, điện thoại, điện tín của công dân

Khoản 1 và khoản 2 Điều 38 BLDS 2015 quy định rõ:

- Quyền riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ.
- Việc thu thập, lưu giữ, sử dụng và công khai thông tin liên quan đến đời tư, bí mật cá nhân phải được sự đồng ý của người đó; việc thu thập, lưu giữ, sử dụng và công khai thông tin liên quan đến bí mật gia đình phải được sự đồng ý của các thành viên gia đình, trừ trường hợp pháp luật quy định khác.
Ngoài ra, Điều 12 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 còn quy định:

Không ai được can thiệp trái pháp luật vào chỗ ở, đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, an ninh và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác.
Theo đó, các cá nhân được pháp luật bảo vệ, quyền riêng tư của họ được bảo vệ và thư tín, điện thoại, điện tín của họ được an toàn. Vì vậy, việc thu thập, sử dụng và tiết lộ thông tin liên quan đến một cá nhân phải được sự đồng ý của cá nhân đó. Tuy nhiên, trong một số trường hợp sau đây, người hoặc cơ quan có thẩm quyền có quyền khám xét, tịch thu, xác minh điện thoại của công dân, bao gồm:

2. 02 vụ công an thu giữ, kiểm tra điện thoại của người dân

2.1. Khi điện thoại chứa tang vật vụ án vi phạm hành chính

Theo khoản 5, mục 119 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012, người có thẩm quyền có quyền khám xét đồ vật, kể cả điện thoại di động, trong trường hợp cần ngăn chặn kịp thời vi phạm hành chính hoặc bảo đảm việc xử lý vi phạm hành chính . phạm tội.
Đồng thời, theo khoản 1 Điều 128 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012, việc khám đồ vật chỉ được tiến hành khi có căn cứ cho rằng trong đồ vật đó có cất giấu tang vật vi phạm hành chính.

2.2. Khi chiếc điện thoại là vật chứng trong một vụ án hình sự

 
- Theo Điều 87, Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, điện thoại di động được coi là nguồn chứng cứ ở dạng dữ liệu điện tử vì điện thoại là phương tiện lưu trữ chữ viết, chữ số, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng âm thanh tương tự. được tạo, lưu trữ, truyền hoặc nhận bằng điện tử.

- Dữ liệu điện tử là một trong 07 nguồn chứng cứ có giá trị chứng minh tội phạm và các vi phạm pháp luật khác. - Cơ quan công an có quyền thu giữ dữ liệu điện tử (điện thoại di động) theo quy định tại các Điều 88, 89, 90, 107, 196 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015 nhằm:

Phát hiện và ngăn chặn hành vi phạm tội;

Thu thập, củng cố tài liệu, chứng cứ để chứng minh tội phạm và người phạm tội;

Thu thập tài liệu liên quan đến việc giải quyết vụ án hoặc bảo đảm thi hành bản án, chế tài.
Theo Điều 196 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, quá trình thu giữ dữ liệu điện tử (điện thoại di động) có thể thu giữ thiết bị kết nối và các tài liệu liên quan. Do đó, việc yêu cầu chủ sở hữu thiết bị cung cấp mật khẩu dữ liệu điện tử của cơ quan cung cấp dữ liệu điện tử để khai thác, thẩm tra, xác minh, thu thập thông tin, dữ liệu liên quan đến vụ việc đang giải quyết là hoàn toàn hợp pháp.
Như vậy, từ các quy định trên, cơ quan công an có quyền thu giữ, kiểm tra điện thoại của công dân khi có căn cứ cho rằng chiếc điện thoại này là vật chứng hoặc có liên quan trực tiếp đến vụ việc, vi phạm hành chính hoặc có liên quan đến hoặc đang phương tiện phạm tội trong vụ án hình sự.

Nội dung bài viết:

    Hãy để lại thông tin để được tư vấn

    comment-blank-solid Bình luận

    084.696.7979 19003330 Báo giá Chat Zalo