Chứng nhận doanh nghiệp ưu tiên AEO là gì? [2023]
Cơ sở pháp lý:
- Luật Doanh nghiệp 2020;
- Thông tư 63/2011/TT-BTC

Doanh nghiệp aeo là gì
1. Khái niệm ưu tiên
Công ty là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định và được đăng ký kinh doanh theo pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh. Theo Luật Doanh Nghiệp 2020, doanh nghiệp là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm, cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm sinh lợi. Do đó, các tập đoàn về cơ bản là các tổ chức kinh tế vì lợi nhuận, mặc dù thực tế là một số tổ chức công ty có các hoạt động không hoàn toàn vì lợi nhuận.
Theo từ điển tiếng Việt, ưu tiên được hiểu theo nghĩa được coi trọng hơn, hoặc được hưởng quyền lợi nào đó trước, hoặc thu hút sự chú ý của mọi người. Đặc biệt được hiểu là khác với bình thường về chức năng hoặc mức độ khả năng.
Quan niệm ghép là ưu tiên đặc biệt, phải được coi trọng trước hoặc nhận mọi sự quan tâm trước.
2. Khái niệm ngành nghề ưu tiên
“Doanh nghiệp ưu tiên” bắt nguồn từ khái niệm quốc tế trong tiếng Anh là Authorized Economic Operator, viết tắt là AEO, viết tắt của Authorized Economic Partner. Chỉ thị AEO của EU đưa ra khái niệm về AEO: "Chứng nhận AEO - là đơn giản hóa các thủ tục hải quan/an ninh và an toàn được cấp cho bất kỳ đối tác kinh tế nào được thành lập tại EU. Cộng đồng mong muốn được hưởng các lợi ích của chứng nhận AEO nếu đối tác kinh doanh đó đáp ứng các tiêu chí tuân thủ pháp luật hải quan, chuẩn mực kế toán, thanh khoản và duy trì các tiêu chuẩn an toàn, an ninh phù hợp trong chừng mực “đối tác kinh tế chỉ là chủ thể trong khuôn khổ hoạt động thương mại tham gia vào các hoạt động do pháp luật hải quan điều chỉnh”. Khung SAFE của Tổ chức Hải quan Thế giới (WCO) Tóm tắt Chương trình AEO định nghĩa AEO là: "một bên tham gia vào việc vận chuyển hàng hóa quốc tế với chức năng đã được cơ quan hải quan quốc gia phê duyệt hoặc hành động thay mặt cho cơ quan hải quan quốc gia trong theo các tiêu chuẩn an ninh của WCO hoặc các tiêu chuẩn an ninh chuỗi cung ứng tương đương AEO bao gồm các nhà sản xuất, nhà nhập khẩu, nhà xuất khẩu, nhà môi giới, nhà vận chuyển, thương nhân, trung gian, cảng, sân bay, chính quyền cảng, nhà tích hợp và kho hàng, nhà phân phối…”.
Theo thông tư 63/2011/TT-BTC ngày 13/05/2011, doanh nghiệp được hưởng chế độ ưu tiên trong lĩnh vực quản lý nhà nước về hải quan được gọi là doanh nghiệp ưu tiên được hưởng chế độ ưu tiên của các quy định tại thông tư này đối với toàn ngành hải quan. đơn vị trên toàn lãnh thổ, cả trong quá trình làm thủ tục thông quan và kiểm soát sau thông quan. Công ty được công nhận là công ty ưu tiên được hưởng chế độ ưu tiên mà các công ty khác không được hưởng khi xuất nhập khẩu hàng hóa của công ty hoặc thực hiện dịch vụ xuất nhập khẩu (trừ hàng hóa, dịch vụ). thủy hải sản, nông sản, dầu thô xuất xứ thuần Việt) hoặc mua bán trong nước.
3. Khái niệm công ty ưu tiên
Ở Việt Nam hiện nay, có thể hiểu “DN ưu tiên hải quan là DN tham gia hoạt động thương mại quốc tế được hưởng một số chế độ ưu tiên theo quy định của pháp luật trong quá trình làm thủ tục hải quan, thực hiện thủ tục hải quan và thực hiện thủ tục hải quan”. - Kiểm soát thủ tục hải quan.
Như vậy, AEO hiểu theo nghĩa tiếng Anh của từ này và bản chất của chương trình AEO rộng hơn so với cụm từ “Priority Business”. Trên thực tế, AEO có thể được hiểu là các đối tác kinh tế (Việt Nam hiện nay tạm hiểu là doanh nghiệp nhưng cần định nghĩa rộng hơn) có hệ thống tự đánh giá và kiểm soát việc tuân thủ pháp luật và được ủy quyền hành động trong một mức độ nhất định do cơ quan quản lý quyết định. ủy quyền của cơ quan hải quan. Các quy định về AEO quốc tế và doanh nghiệp ưu tiên của Việt Nam còn nhiều điểm chưa thực sự thống nhất dẫn đến cách hiểu khác nhau nhưng về cơ bản các doanh nghiệp này được hưởng một số ưu tiên ngoại lệ trong lĩnh vực hoạt động thương mại quốc tế AEO. Tuy nhiên, để chương trình AEO được triển khai, các nguyên tắc sau phải được tuân thủ:
Đầu tiên, nó phải được chính phủ xác nhận và được hỗ trợ bởi quản lý cấp cao của cơ quan hải quan.
Thứ hai, chương trình phải đạt chuẩn quốc tế. Điều này phải được thể hiện bằng các thủ tục đơn giản hóa, giảm sự chậm trễ và các mối quan hệ làm việc mới giúp tăng cường tuân thủ các yêu cầu hải quan. Trên hết, việc tuân thủ các tiêu chuẩn quốc tế là điều kiện tiên quyết để hài hòa hóa các thủ tục hải quan do quá trình quốc tế hóa chuỗi cung ứng quốc tế.
Thứ ba, cơ quan hải quan phải cam kết về tính chuyên nghiệp và nhất quán. Doanh nghiệp XNK không thể thành công như mong đợi nếu không có sự thực hiện nghiêm túc nhiệm vụ và trách nhiệm của công chức hải quan.
Thứ tư, chính phủ quyết định hướng nhập khẩu, hướng xuất khẩu hay chính sách mặt hàng. Nó phụ thuộc vào nước. Chính phủ không chỉ thận trọng trong việc đảm bảo an ninh trong toàn bộ chuỗi cung ứng nhập khẩu mà còn đảm bảo khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế bằng cách bảo vệ thị trường và thương hiệu xuất khẩu.
Thứ năm, tăng cường quan hệ đối tác hải quan với doanh nghiệp. Trong quản lý hải quan hiện đại, hệ thống kiểm soát truyền thống đã nhường chỗ cho hệ thống kiểm soát có chọn lọc dựa trên quản lý rủi ro. Các hệ thống này đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc tuân thủ các yêu cầu hải quan. Các công ty không tuân thủ sẽ bị phạt nặng, những công ty tuân thủ phải được khen thưởng như một vấn đề ưu tiên trong khu vực hải quan. Thông qua cách tiếp cận kiểm soát ít bù trừ hơn, ngành Hải quan vừa có thể đảm bảo an ninh cho chuỗi thương mại quốc tế, vừa tạo thuận lợi cho dòng chảy thương mại hợp pháp, từ đó tăng nguồn thu ngân sách cho đất nước.
4. Ưu tiên đối với công ty đáp ứng tiêu chí ưu tiên
4.1. Các chủ đề và lĩnh vực của chương trình ưu tiên
Chuỗi cung ứng quốc tế là một quá trình từ sản xuất hàng hóa đến giao hàng cho người dùng cuối, bao gồm xuất khẩu và nhập khẩu hàng hóa. Như vậy, sự vận động của hàng hóa là do tác động của “con người”, hay rộng hơn là các chủ thể kinh doanh vận hành và kiểm soát tác động vào chuỗi cung ứng để thu được các giá trị gia tăng hay lợi nhuận. Vì vậy, vai trò của doanh nghiệp là công cụ tạo ra những “rủi ro”, dù vô tình hay hữu ý, đối với chuỗi cung ứng hàng hóa quốc tế. Vì vậy, để đảm bảo an ninh cho chuỗi cung ứng quốc tế này, cơ quan hải quan không chỉ tập trung vào hàng hóa nhập khẩu và kiểm soát hàng hóa này mà còn phải đảm bảo an ninh để toàn bộ chuỗi cung ứng được quản lý bởi các tác nhân trong chuỗi. Những nỗ lực đảm bảo an ninh chuỗi cung ứng quốc tế không chỉ nhằm mục đích bảo vệ mà còn giúp quá trình vận chuyển hàng hóa thông qua chuỗi cung ứng diễn ra thuận lợi hơn. Tham gia vào chuỗi cung ứng này bao gồm nhiều doanh nghiệp, từ sản xuất, xuất nhập khẩu, vận tải…. Các nhà sản xuất chịu trách nhiệm đảm bảo quy trình sản xuất an toàn và bảo mật cho các sản phẩm của họ; Đảm bảo mang đến cho khách hàng những sản phẩm chất lượng tốt, an toàn.
Công ty xuất khẩu tuân thủ các thủ tục pháp lý liên quan đến xuất khẩu hàng hóa theo quy định của Luật Hải quan, bao gồm chính sách thương mại, thuế và phí xuất khẩu (nếu có) và đảm bảo giao nhận hàng hóa an toàn và đảm bảo.
Người vận chuyển tuân thủ các thủ tục pháp lý trong việc vận chuyển hàng hóa theo quy định của pháp luật hải quan; đảm bảo vận chuyển hàng hóa an toàn và bảo mật, đặc biệt là đảm bảo phương tiện vận tải và hàng hóa vận chuyển không bị truy cập và can thiệp trái phép.
Công ty cho thuê kho đảm bảo hàng hóa trong kho ngoại quan luôn được đặt dưới sự kiểm soát của hải quan; tuân thủ các quy định bắt buộc liên quan đến việc bảo quản an toàn hàng hóa theo thủ tục nhập kho hải quan; tuân thủ các điều kiện cụ thể do cơ quan hải quan quy định; bảo vệ khu vực kho hàng chống sự xâm nhập từ bên ngoài; và bảo vệ tài sản khỏi bị truy cập, thay thế hoặc can thiệp trái phép.
Người môi giới hải quan thực hiện các thủ tục pháp lý cần thiết theo quy tắc hải quan, đảm bảo rằng hàng hóa tuân thủ thủ tục hải quan. Người vận chuyển đảm bảo việc vận chuyển hàng hóa an toàn và bảo mật, đặc biệt bằng cách đảm bảo rằng phương tiện vận chuyển và hàng hóa được vận chuyển không bị truy cập và can thiệp trái phép; Người vận chuyển có trách nhiệm cung cấp các chứng từ vận chuyển cần thiết; tuân thủ các thủ tục pháp lý cần thiết theo quy định của pháp luật về hải quan.
Các công ty khác nhau trong chuỗi cung ứng dựa vào các quy trình bảo mật của các đối tác thương mại của họ để đảm bảo an toàn cho hàng hóa mà họ quản lý và để duy trì "trạng thái an toàn".
Có thể nói, chuỗi cung ứng toàn cầu do nhiều chủ thể làm chủ, trong đó có các công ty hoạt động trong chuỗi cung ứng. Để đạt được cả mục tiêu tạo thuận lợi và an ninh của khuôn khổ AEO, cơ quan hải quan cần áp dụng các quy định rõ ràng và minh bạch trong lĩnh vực hoạt động hải quan, nơi các hoạt động này có thể được hiện đại hóa, điều chỉnh và cải thiện hơn nữa vì lợi ích của cộng đồng quốc tế. cộng đồng kinh doanh. Cơ quan Hải quan cần chủ động xem xét các vấn đề có thể tận dụng nguồn lực hiện có để hỗ trợ doanh nghiệp hoạt động một cách hiệu quả nhất. Cộng đồng thương mại và vận tải quốc tế có kinh nghiệm và kiến thức để giúp các cơ quan hải quan hoàn thành trách nhiệm về an ninh và tạo thuận lợi cho thương mại. Khu vực tư nhân nên tận dụng cơ hội này để hợp tác với Hải quan và hỗ trợ Hải quan thực hiện các nhiệm vụ liên quan đến an ninh. Mối quan hệ giữa Hải quan và Doanh nghiệp là mối quan hệ hữu cơ thể hiện sự cân bằng giữa tạo thuận lợi và tuân thủ pháp luật, mối quan hệ này luôn gắn kết và là trung tâm của mối quan hệ quý báu này.
Do đó, quan hệ đối tác Hải quan-Doanh nghiệp là một trong những nỗ lực nhằm đạt được cả mục tiêu an toàn, an ninh và tạo thuận lợi cho chuỗi cung ứng.
4.2. Lợi ích kinh doanh được ưu tiên trong các tiêu chuẩn
Theo Khung tiêu chuẩn về an ninh và tạo thuận lợi thương mại toàn cầu gồm 4 cấu phần, cấu phần cuối cùng là lợi ích mà Hải quan mang lại cho doanh nghiệp tuân thủ các tiêu chuẩn và thông lệ tốt nhất về an ninh chuỗi cung ứng. Về cơ bản những lợi ích đối với các doanh nghiệp AEO, gồm:
Thứ nhất, các biện pháp thúc đẩy giải phóng hàng, giảm thời gian quá cảnh và chi phí lưu kho.
Để làm tốt điều này cơ quan hải quan của quốc gia cần xây dựng và thực tốt các vấn đề sau:
– Xây dựng bộ dữ liệu giải phóng hàng đã được thu gọn nhất có thể;
– Xúc tiến quá trình xử lý và giải phóng hàng nhanh, gọn, chính xác;
– Việc kiểm tra an ninh hàng hóa phải thực hiện ở mức tối thiểu;
– Ưu tiên sử dụng các kỹ thuật trong kiểm tra, kiểm soát hải quan, đảm bảo thực hiện kiểm tra không phá mẫu khi cần thiết phải kiểm tra hàng hóa;
– Giảm một số phí và lệ phí cho các doanh nghiệp được ưu tiên;
– Đảm bảo hoạt động liên tục của cơ quan hải quan có yêu cầu rõ ràng của doanh nghiệp.
Thứ hai, cho phép doanh nghiệp ưu tiên truy cập vào thông tin có giá trị
Các doanh nghiệp được ưu tiên được phép truy cập các thông tin liên quan đến các lĩnh vực:
– Tên và các thông tin liên lạc của các doanh nghiệp ưu tiên khác khi có sự đồng ý của những doanh nghiệp ưu tiên này;
– Danh sách tất cả các nước đã thông qua Khung tiêu chuẩn của WCO;
– Danh mục các tiêu chuẩn và thông lệ về an ninh đã được công nhận.
Thứ ba, các biện pháp cụ thể liên quan đến các giai đoạn khó khăn của doanh nghiệp hoặc khi mức độ rủi ro gia tăng .
Cơ quan hải quan nghiêm chỉnh thực hiện các quy định đối với các doanh nghiệp được ưu tiên nhưng đang gặp rủi ro trong các trường hợp:
– Doanh nghiệp gặp các điều kiện nguy hiểm;
– Sau khi xảy ra sự cố về việc đóng cửa hoặc tái mở cửa các cảng biển/ cửa khẩu biên giới;
– Xuẩt khẩu hàng hóa sang các nước gặp thảm họa hoặc sự cố
Thứ tư, xem xét việc tham gia vào bất cứ chương trình mới nào về xử lý hàng hóa, gồm:
– Đơn giản hóa các chương trình kiểm tra sau thông quan;
– Hợp lý hóa các chương trình tự kiểm tra của doanh nghiệp hoặc giảm bớt các cuộc kiểm tra doanh nghiệp;
– Đẩy nhanh việc xử lý các yêu cầu liên quan đến kiểm tra sau thông quan;
– Giảm bớt thiệt hại và việc xử phạt hành chính ngoại trừ những trường hợp gian lận mà Hải quan có cơ sở xác định;
– Tăng cường việc xử lý phi giấy tờ hàng hóa xuất nhập khẩu thương mại;
– Ưu tiên đáp ứng các yêu cầu liên quan đến các quyết định của cơ quan Hải quan quốc gia.
– Được thực hiện , hợp lý hóa các thủ tục thông quan từ xa
– Có khả năng đưa ra các hành động khắc phục sự cố hoặc cung cấp thông tin trước khi thực hiện quy trình xử phạt hành chính của Hải quan ngoại trừ các trường hợp gian lận.
– Ưu tiên không bị phạt đối với trường hợp chậm nộp thuế mà chỉ bị tính lãi chậm nộp thuế.
5. Điều kiện, yêu cầu đối với hải quan và công ty ưu tiên trong khung tiêu chuẩn
Khung tiêu chuẩn của Tổ chức Hải quan Thế giới cho phép các kế hoạch an ninh linh hoạt dựa trên mô hình AEO. Cơ quan hải quan không nên cản trở cộng đồng thương mại quốc tế bằng cách đặt ra các yêu cầu khác nhau để đảm bảo an ninh và tạo thuận lợi cho thương mại quốc tế. Do đó, cần có một bộ tiêu chuẩn Hải quan quốc tế duy nhất do WCO xây dựng mà không chồng chéo hoặc mâu thuẫn với các yêu cầu an ninh liên chính phủ đã được công nhận. Để được hưởng ưu tiên, doanh nghiệp cũng như Hải quan phải đáp ứng những nhu cầu nhất định dưới đây.
5.1. Đảm bảo tuân thủ pháp luật hải quan
Khung tiêu chuẩn của Tổ chức Hải quan thế giới quy định doanh nghiệp muốn được hưởng ưu tiên phải một thời gian nhất định không vi phạm các quy định trong luật pháp quốc gia về hải quan và các quy định khác của pháp luật gây ảnh hưởng đến việc được cấp chế độ ưu tiên. Về cơ bản phải đáp ứng các yêu cầu sau:
(i) Doanh nghiệp có quá trình tuân thủ pháp luật là doanh nghiệp chưa bị cơ quan hải quan và các cơ quan quản lý nhà nước khác xử lý vi phạm pháp luật; hoặc, trong thời hạn nhất định (có thể là 36 tháng), không quá 03 (ba) lần bị mỗi cơ quan quản lý xử lý vi phạm hành chính (không bao gồm việc phạt chậm nộp tiền thuế) bằng hình thức phạt tiền với mức phạt mỗi lần lớn hơn mức nhất định (tùy theo quy định quốc gia), không kèm theo các hình thức phạt bổ sung (như tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề; tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm; buộc tiêu hủy, buộc đưa hàng hóa ra khỏi lãnh thổ quốc gia; buộc nộp lại số tiền bằng trị giá tang vật vi phạm); doanh nghiệp hợp tác tốt với cơ quan hải quan.
(ii) Thời gian đánh giá quá trình tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp thường là 36 (ba mươi sáu) tháng trở về trước, kể từ ngày Cơ quan hải quan nhận được văn bản của doanh nghiệp đề nghị được công nhận là doanh nghiệp ưu tiên. Quy định này được nhiều nước áp dụng, tuy nhiên theo thông lệ quốc tế, một số nước (Mỹ, Nhật) tiến hành kiểm toán hệ thống kinh doanh của các đối tác muốn gia nhập Chương trình AEO trước, trong và sau khi gia nhập. Và trong 3 năm đầu tiên, AE phải chấp nhận kiểm toán chặt chẽ và được hỗ trợ điều chỉnh, hoàn thiện theo tiêu chuẩn.
Công ty có thời gian hoạt động dưới 36 tháng nhưng có thời gian hoạt động từ 12 tháng trở lên được ưu tiên kinh doanh xuất nhập khẩu tất cả các mặt hàng, loại hình xuất nhập khẩu nếu đáp ứng các quy định về xuất nhập khẩu. Điều kiện kinh doanh ưu tiên cũng có thể thuộc về doanh nghiệp được coi là doanh nghiệp ưu tiên.
(iii) Cơ quan chịu trách nhiệm xác nhận sự tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp là thủ trưởng các cơ quan quản lý có liên quan đến quản lý hải quan, quản lý thuế và quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh, cụ thể:
– Thứ nhất, cơ quan hải quan xác nhận việc tuân thủ pháp luật hải quan (bao gồm cả việc tuân thủ pháp luật về thuế đối với hàng hóa xuất nhập khẩu).
– Thứ hai, cơ quan có thẩm quyền khác xác nhận việc tuân thủ pháp luật của công ty theo yêu cầu của cơ quan hải quan, bao gồm:
Cơ quan thuế nơi công ty đăng ký thực hiện nghĩa vụ nộp thuế quốc gia, xác nhận việc tuân thủ pháp luật về thuế quốc gia và hiệu quả kinh doanh.
Cơ quan quản lý kế hoạch đầu tư (tại Việt Nam là sở kế hoạch đầu tư tỉnh, thành phố) hoặc cơ quan quản lý khu công nghiệp, cơ quan quản lý khu kinh tế nơi công ty đặt trụ sở hoặc có đơn vị sản xuất xác nhận tuân thủ pháp luật của công ty. Cơ quan quản lý thị trường tỉnh, thành phố nơi công ty đặt trụ sở chính và có cơ sở sản xuất, kinh doanh xác nhận việc tuân thủ pháp luật về thương mại. Trường hợp công ty có trụ sở chính, cơ sở sản xuất, cơ sở kinh doanh tại nhiều tỉnh, thành phố thì phải được cơ quan quản lý thị trường tại tất cả các tỉnh, thành phố này xác nhận.
5.2. Điều kiện quản lý báo cáo thương mại
Để được công nhận là doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu, các công ty phải cung cấp các báo cáo kịp thời, chính xác và đầy đủ về hoạt động xuất nhập khẩu. Các doanh nghiệp phải duy trì hồ sơ kinh doanh, hồ sơ này có thể được xác minh như một thành phần cần thiết của an ninh chuỗi cung ứng. Cụ thể, công ty cần làm tốt những việc sau:
Duy trì hệ thống khai báo cho phép cơ quan hải quan thực hiện kiểm toán đối với quá trình di chuyển của hàng hóa xuất khẩu và nhập khẩu;
Chuẩn bị và ủy quyền cho cơ quan hải quan xem xét các báo cáo cần thiết theo quy định của pháp luật quốc gia;
Các công ty phải cho phép hải quan và luôn sẵn sàng hỗ trợ truy cập vào các báo cáo nội bộ và hệ thống quản lý đáp ứng các yêu cầu của cơ quan cấp phép hải quan. Công ty có trách nhiệm lưu giữ và cung cấp cho cơ quan hải quan mọi giấy chứng nhận, giấy phép liên quan đến việc xuất nhập khẩu hàng hóa. Trong giới hạn do luật pháp quốc gia đặt ra, hãy lưu trữ các báo cáo phù hợp để gửi cho cơ quan hải quan sau này.
Đồng thời, công ty áp dụng các biện pháp an ninh công nghệ thông tin phù hợp để bảo vệ chống lại sự truy cập của những người không được ủy quyền.
5.3. Năng lực tài chính
Năng lực tài chính tốt là yếu tố quan trọng để duy trì và phát triển tiềm lực dựa trên các biện pháp đảm bảo an toàn cho chuỗi cung ứng. đồng thời đảm bảo thực hiện đúng cam kết đối với các loại hình công ty. Hải quan xem xét quá trình hoạt động của doanh nghiệp xin tham gia chương trình AEO trong đó việc đáp ứng các nghĩa vụ tài chính và doanh nghiệp phải chứng minh được doanh nghiệp có khả năng đáp ứng bất kỳ tiêu chuẩn bổ sung nào về khả năng thanh toán tài chính hay các vấn đề liên quan khác. Vì vậy, tùy thuộc vào loại hình kinh doanh mà doanh nghiệp phải đảm bảo mức độ kim ngạch tối thiểu mới được tham gia vào chương trình này.
5.4. Công tác tư vấn, hợp tác và trao đổi thông tin
Để đảm bảo có sự hợp tác cùng phát triển, cơ quan hải quan, các cơ quan chức năng khác và doanh nghiệp AEO cần thường xuyên tham vấn vì lợi ích của cả đôi bên bao gồm những vấn đề như: an ninh dây chuyền cung ứng; các biện pháp tạo thuận lợi thương mại tuân thủ các quy định về hoạt động kiểm soát. Kết quả của công tác tham vấn này góp phần vào sự phát triển và duy trì hoạt động quản lý rủi ro của hải quan.
Vấn đề này yêu cầu các doanh nghiệp AEO thực hiện tốt các nhiệm vụ sau:
(i) Cung cấp các đầu mối liên lạc rõ ràng, thường trực tại trụ sở doanh nghiệp hoặc đầu mối phối hợp có thể cho phép liên lạc lập tức tới đầu mối tại trụ sở doanh nghiệp đối với các vấn đề thuộc phạm vi tuân thủ và thực thi của cơ quan hải quan (đăng ký hàng, vận chuyển, thông tin về nhân viên…);
(ii) Bản thân doanh nghiệp AEO hoặc thông qua hiệp hội ngành nghề, phải tham gia vào việc trao đổi thông tin lẫn nhau với cơ quan hải quan trừ những thông tin không thể cung cấp do quy định của pháp luật, các văn bản pháp lý hoặc những tiền lệ khác. (iii) Thông qua các cơ chế được xác định trong chương trình AEO quốc gia, thông báo cho nhân viên hải quan thích hợp về các yêu cầu cung cấp thông tin lô hàng không phù hợp, đáng ngờ hoặc bất thường.
(iv) Thông qua các cơ chế quy định trong chương trình AEO quốc gia, cung cấp thông tin kịp thời cho cơ quan hải quan và các cơ quan hữu quan khác khi phát hiện hàng hóa bất hợp pháp, đáng ngờ hoặc hàng hóa không có nguồn gốc xuất xứ.
Đối với cơ quan hải quan
Cơ quan hải quan có trách nhiệm hỗ trợ, phối hợp:
(i) Tham khảo ý kiến của công ty AEO hoặc đại lý của công ty đó để thiết lập các thủ tục cần tuân thủ trong trường hợp có yêu cầu hoặc nghi ngờ có vi phạm hải quan.
(ii) Nếu cần thiết và thực tế, tham gia các buổi tham vấn thường xuyên ở cấp quốc gia và cấp địa phương với tất cả các bên tham gia hoạt động xuất nhập khẩu để thảo luận các vấn đề liên quan đến hoạt động xuất nhập khẩu. , các thủ tục và yêu cầu đối với an ninh của cơ sở và hàng hóa.
(iii) Khi được AEO yêu cầu, đưa ra bình luận cụ thể về các hoạt động của AEO để làm nổi bật các vấn đề an ninh liên quan đến chuỗi cung ứng quốc tế. (iv) Cung cấp cho các công ty AEO hoặc đại lý của họ số điện thoại và địa chỉ của các quan chức có thể liên hệ.
Nội dung bài viết:
Bình luận