Chính sách tài khóa ở việt nam năm 2020

Tóm tắt: Bài viết tổng hợp những hệ lụy do đại dịch COVID-19 mang lại và các chương trình hỗ trợ kinh tế kịp thời của Chính phủ đã triển khai,  bình luận về sự vận hành và điều phối  của chính sách tài khóa  và  tiền tệ nhằm hỗ trợ người dân và doanh nghiệp trong  đại dịch. . Trên cơ sở đó,  một số vấn đề cần được quan tâm hơn nữa khi phối hợp giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ nhằm nâng cao hiệu quả truyền tải chính sách tới nền kinh tế trong thời gian tới. 

 Chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa của Việt Nam trước tác động của đại dịch COVID-19  

 

 Tóm tắt: Bài viết khái quát những hậu quả do đại dịch COVID-19 mang lại và các kế hoạch hỗ trợ kinh tế kịp thời của chính phủ, từ đó bình luận về việc điều hành, phối hợp giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ để cứu người dân và doanh nghiệp trong đại dịch. Trên cơ sở đó, một số vấn đề được đề xuất liên quan đến sự phối hợp chặt chẽ giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ nhằm nâng cao hiệu quả truyền tải chính sách tới nền kinh tế trong thời gian tới. 

 CÂU HỎI 

 

 Năm 2020 đã trôi qua với hầu hết các sự kiện kinh tế, xã hội  gắn liền với đại dịch COVID-19. Sự bùng phát của dịch COVID-19 không chỉ là mối nguy hiểm đối với sức khỏe và sự an toàn  của con người mà còn là  cú sốc đối với nền kinh tế toàn cầu, trong đó có Việt Nam. Tuy nhiên, kết thúc năm 2020, trong bối cảnh kinh tế toàn cầu vẫn  suy thoái sâu do ảnh hưởng nặng nề của dịch COVID-19, Việt Nam đã trở thành điểm sáng của thế giới - thực hiện  hiệu quả mục tiêu qua đại dịch. Mục tiêu “vừa phòng chống dịch bệnh vừa phát triển kinh tế  xã hội”. Theo số liệu thống kê kinh tế - xã hội quý IV và cả năm 2020 của Tổng cục Thống kê, tính chung cả năm 2020, GDP của Việt Nam sẽ tăng trưởng 2,91% [1] - tuy đây là mức thấp nhất trong  10 năm qua nhưng là mức tăng tốc độ tăng trưởng dương và thuộc hàng cao nhất thế giới. Có thể nói đó là một thành công lớn của Việt Nam. Các chương trình hỗ trợ kinh tế của Chính phủ, thông qua đó điều hành chính sách tài khóa và tiền tệ, đã hỗ trợ người dân và doanh nghiệp vượt qua đại dịch, giúp nền kinh tế từng bước phục hồi. Tuy nhiên, từ góc nhìn của cơ quan quản lý chính trị, đó thực sự  là điều đáng lo ngại bởi về lâu dài, nếu việc thực hiện chính sách hỗ trợ không hiệu quả, dòng tiền sẽ không chảy vào các lĩnh vực sản xuất tạo ra giá trị bền vững. có thể là rủi ro tiềm ẩn cho giai đoạn tiếp theo. Bài viết nghiên cứu và thảo luận về chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ của Việt Nam trước tác động của dịch COVID-19. 

 ẢNH HƯỞNG CỦA  COVID-19 VÀ CÁC GÓI HỖ TRỢ CỦA CHÍNH PHỦ 

 

 Tính đến ngày 31/12/2020, thế giới có hơn 83.790.000 ca nhiễm với hơn 59.300.000 người khỏi bệnh và hơn 1.820.000 ca tử vong tại hơn 220 quốc gia và vùng lãnh thổ. Mỹ là quốc gia có số người nhiễm bệnh cao nhất thế giới với hơn 20.445.000 người mắc bệnh và cũng là quốc gia có số ca tử vong cao nhất với hơn 354.200 ca tử vong. Tiếp đến là Ấn Độ với hơn 10.286.000 ca nhiễm và hơn 149.000 ca tử vong. Đứng thứ ba là Brazil với hơn 7.670.000 người mắc bệnh và gần 195.000 ca tử vong. Vào cuối năm 2020, các nước xếp thứ 4 đến 10 về số ca nhiễm là: Nga, Pháp, Anh, Thổ Nhĩ Kỳ, Ý, Tây Ban Nha, Đức, các nước xếp thứ 4 đến 10 về số ca tử vong là Mexico, Ý, Anh, Pháp , Nga, Iran, Tây Ban Nha. Có 18 quốc gia có trên 1 triệu ca mắc/quốc gia và 18 quốc gia có trên 20.000 ca tử vong/quốc gia.[2] 

 

 Diễn biến nhanh chóng, phức tạp và khó lường của đại dịch COVID-19 đã đẩy nhiều quốc gia vào cuộc khủng hoảng kép  về y tế và kinh tế. Theo dự báo của các tổ chức quốc tế, kinh tế toàn cầu năm 2020 sẽ suy giảm 4-4,5%, trong đó thương mại toàn cầu dự kiến ​​giảm khoảng 9,2-10% và đầu tư khoảng 10-15%. FDI đã giảm khoảng 25-30%. chủ yếu là do sự bùng phát của COVID-19 [3]. Đại dịch COVID-19 đã gây ra tình trạng phá sản trên diện rộng. Trung bình, cứ ba công ty trên toàn thế giới thì có một công ty bị đe dọa mất khả năng thanh toán. Theo tính toán của Tổ chức Lao động Quốc tế đến tháng 9/2020, tỷ lệ mất việc làm tăng 12,1%, tương đương với 345 triệu việc làm và xu hướng tiếp tục  xấu đi khi dịch COVID-19 diễn biến phức tạp hơn. Việt Nam cũng trong hoàn cảnh tương tự, Chủ tịch VCCI Vũ Tiến Lộc cho biết dịch COVID-19 ảnh hưởng lớn đến doanh nghiệp Việt Nam, trong tháng 11/2020 số doanh nghiệp phải tạm ngừng hoạt động, rút ​​khỏi thị trường lên tới 44.000 công ty, con số 60 Tăng % so với cùng kỳ năm 2019. Trung bình mỗi tháng, Việt Nam có hơn 5.000 doanh nghiệp phải rút khỏi thị trường. Đây là con số cao nhất từng được ghi nhận và kéo theo nhiều hệ lụy [4] . 

 

 Để ứng phó với sự bùng phát của dịch COVID-19, các quốc gia đã đồng loạt triển khai nhiều chính sách khác nhau, liên tục tung ra các gói kích cầu, triển khai đồng loạt  các biện pháp giảm thiểu tác động tiêu cực của dịch bệnh tới nền kinh tế, hỗ trợ nền kinh tế vượt qua cuộc khủng hoảng này. Tại Việt Nam, chính phủ đã nhanh chóng triển khai các giải pháp mạnh, trước hết là  hạn chế dịch bệnh lây lan, sau đó là  phát triển kinh tế thông qua các chương trình hỗ trợ kinh tế. Các giải pháp  bước đầu đã phát huy hiệu quả khi dịch bệnh được khống chế, không để lây lan trong cộng đồng và các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội tiếp tục khởi sắc. 

 Chương trình hỗ trợ thuế 180 nghìn tỷ đồng 

 

 Ngày 08/04/2020, chính phủ ban hành Nghị định số 41/2020NĐ-CP quy định về gia  hạn nộp thuế giá trị gia tăng, thuế  doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân và tiền thuê đất đối với 5 nhóm đối tượng. Theo tính toán của Bộ Tài chính, số DN được giãn thuế GTGT, thuế DN, tiền thuê đất đợt này chiếm tới 98% tổng số DN đang hoạt động sản xuất kinh doanh trên cả nước. số tiền khoảng 180 nghìn tỷ đồng [5] . Đây là con số lớn, có thể giúp người được gia hạn nộp thuế có vốn để duy trì  sản xuất, kinh doanh.  Gói 62 nghìn tỷ đồng hỗ trợ  an sinh xã hội 

 

 Ngày 24/4/2020, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 15/2020/QĐ-TTg quy định  việc thực hiện  chính sách hỗ trợ người dân gặp khó khăn do đại dịch COVID-19. Đây được gọi là gói “tiền tươi” đầu tiên từ ngân sách nhà nước được sử dụng để hỗ trợ người dân trong mùa dịch với phương châm “không để ai bị bỏ lại phía sau”. Gói này có hai  phần, một phần là 36 nghìn tỷ đồng để hỗ trợ trực tiếp cho những người bị ảnh hưởng bởi dịch COVID-19, phần còn lại là hỗ trợ gián tiếp bằng cách cho phép các công ty tạm dừng chi trả quỹ hưu trí của những người bị ảnh hưởng bởi đại dịch COVID-19. tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc. 

 Chương trình hỗ trợ tín dụng 300 nghìn tỷ đồng 

 

 Đây là chương trình hỗ trợ được thực hiện bằng cách gia hạn nợ và giảm lãi suất khi vay  ngân hàng. Đối tượng  vay vốn là những lĩnh vực ít bị ảnh hưởng bởi dịch  và cần vốn để phát triển mạnh sau khi hết dịch  như công nghiệp và nông nghiệp, thủy sản,  dịch vụ y tế,  điện... Các công ty bị ảnh hưởng nặng bởi COVID-19 sẽ được giải ngân nếu đảm bảo khả năng trả  nợ. Chương trình hỗ trợ tín dụng 300 nghìn tỷ đồng đã được giao cho các ngân hàng thương mại  triển khai. 

 

 Tổng giá trị của ba gói cứu trợ vào khoảng 8% GDP của Việt Nam (542 nghìn tỷ VND), khi so sánh với gói cứu trợ của Hoa Kỳ - khoảng 10% GDP của Hoa Kỳ (2,2 nghìn tỷ USD), được coi là mức vừa phải. hỗ trợ cho nền kinh tế Việt Nam.  

 Ngoài các gói hỗ trợ trên, Chính phủ cũng đã yêu cầu giải ngân 30 tỷ USD vốn đầu tư công. Cụ thể, các ngành cần giải ngân số vốn còn lại trong năm 2019 và số vốn dự kiến ​​trong năm 2020 với tổng số vốn gần 700 nghìn tỷ đồng, tương đương gần 30 tỷ USD. Đặc biệt, Chính phủ có chủ trương giải ngân  dự án trọng điểm, cấp bách đối với một số dự án giao thông như đường cao tốc Bắc  Nam phía Đông, đường cao tốc Trung Lương - Mỹ Thuận - Cần Thơ, sân bay quốc tế Long Thành... 

  Như vậy, ngoài các chương trình hỗ trợ như chương trình hỗ trợ thuế (180 nghìn tỷ đồng); Gói hỗ trợ an sinh xã hội (khoảng 62 nghìn tỷ đồng) và gói hỗ trợ  tín dụng (300 nghìn tỷ đồng) cũng có gói gần 700 nghìn tỷ đồng, tương đương 30 tỷ USD - số tiền đầu tư công phải giải ngân trong thời gian tới. các tháng trong năm. 

 Tuy vẫn còn  nhiều vấn đề  trong việc tiếp cận  các chương trình hỗ trợ kinh tế của chính phủ đối với cả doanh nghiệp và cá nhân, nhưng nhìn chung, cộng đồng  đánh giá cao sự sáng suốt và quyết đoán trong phòng. ban hành các giải pháp hỗ trợ, cụ thể là Chỉ thị 11 của Chính phủ. 

  VAI TRÒ CỦA CHẾ ĐỘ ĂN UỐNG VÀ  TÁC ĐỘNG ĐẾN CHÂN CỦA ĐẠI DỊCH COVID-19 

 

 Trên thực tế, khi xảy ra những diễn biến bất thường có ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế, CSTT và CSTK  là  công cụ chủ yếu mà các quốc gia thường sử dụng để ứng phó. 

 Nếu nhìn về quá khứ, cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu 2007 - 2008 (GFC) là cuộc khủng hoảng “đắt giá” nhất với thiệt hại 10 nghìn tỷ USD bị cuốn trôi, 30 triệu người mất việc làm, 50 triệu người quay lưng lại với cuộc sống. chuẩn  nghèo [6]. Khi đó, để cứu nền kinh tế, ngoài việc  giảm lãi suất, nhiều quốc gia đã sử dụng chính sách tiền tệ bất thường - tăng  cung tiền trong nền kinh tế [7]. Như Mỹ tung ra 3 gói QE (Nới lỏng định lượng - Quantitative Easing), tức 1 QE vào năm 2008; QE 2 vào năm 2010 và QE 3 vào năm 2012. Tại Vương quốc Anh, các chương trình hỗ trợ cho vay của Ngân hàng Trung ương Anh cũng  được thiết kế để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Đặc biệt, việc mua lại trái phiếu chính phủ cũng được sử dụng rộng rãi. Hoa Kỳ áp dụng các chương trình QE cho đến năm 2014. Các chương trình nới lỏng định lượng ở Mỹ với  tổng trị giá 3,5 nghìn tỷ đô la và ở Anh là 569 tỷ đô la đã được thực hiện từ năm 2008 đến 2014 [8]. Tại Việt Nam,  dù gần như miễn nhiễm với GFC nhưng GFC vẫn để lại  dấu ấn nhất định trong điều hành chính sách tiền tệ. Để đạt được mục tiêu tăng trưởng được coi là mục tiêu ưu tiên trong nhiều năm, chính sách tiền tệ liên tục được nới lỏng  và trên hết là tăng trong năm 2007. Tốc độ tăng trưởng tín dụng bình quân hàng năm khoảng 25% (giai đoạn 1998 - 2007) ), riêng năm 2007, con số này đạt mức kỷ lục (cao nhất trong 10 năm) là 37,8%, đẩy tổng phương tiện thanh toán năm 2007 tăng  37% [9] . Bên cạnh CSTT, CSTK cũng đã vào cuộc. Đầu năm 2009, Thủ tướng Chính phủ đã công bố Quyết định số 16 và Quyết định số 58 ban hành một số giải pháp về thuế để thực hiện chính sách kích cầu đầu tư và tiêu dùng. Tổng giá trị  gói kích thích kinh tế của Chính phủ do thay đổi  chính sách thuế lên tới gần 27 nghìn tỷ đồng [10]. Như vậy,  bình quân giai đoạn 2007-2012, tỷ lệ M2/GDP đạt 113%,  gấp khoảng 2,3 lần tỷ lệ tương ứng của giai đoạn 1996-2006; trong khi tỷ lệ chi ngân sách nhà nước trên GDP khoảng 32%,  gấp khoảng 1,3 lần so với giai đoạn 1996 - 2006 [11] . 

 Đại dịch COVID-19 cũng là một tình huống bất thường, tác động mạnh và để lại  hậu quả nặng nề, gây tổn hại cho nền kinh tế toàn cầu. Bài toán kinh tế của đại dịch COVID-19 là sự gián đoạn chuỗi cung ứng toàn cầu, lần đầu tiên nền kinh tế toàn cầu phải hứng chịu  cả cú sốc cung và cú sốc cầu trên quy mô toàn cầu đối với mọi quốc gia. Hàng loạt quyết định phong tỏa, cô lập mọi khu vực, mọi thành phố, thậm chí mọi quốc gia đã làm thay đổi thói quen chi tiêu, đi lại của người tiêu dùng, dẫn đến sản xuất đình trệ, thất nghiệp gia tăng,  nguy cơ vỡ nợ, kinh doanh đổ vỡ... .Những biến động này đã ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng chung và đẩy nền kinh tế toàn cầu đến bờ vực suy thoái. Để nhanh chóng khắc phục tình trạng này và mở rộng chính sách tài khóa, nới lỏng chính sách tiền tệ một lần nữa được các nước vận dụng  linh hoạt bằng cách liên tục cắt giảm lãi suất và tung ra các chương trình hỗ trợ khổng lồ. 

 Tại Việt Nam,  từ đầu tháng 3/2020, khi dịch bệnh mới bùng phát, Chỉ thị 11/CT-TTg đã được ban hành nhằm tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, doanh nghiệp, đảm bảo  an sinh xã hội ứng phó với dịch COVID-19. Cũng như các quốc gia khác, các chính sách hỗ trợ kinh tế của Việt Nam trong giai đoạn này nhằm duy trì năng lực của nền kinh tế, đảm bảo  nền kinh tế không  kiệt quệ, nâng cao khả năng chống chịu trong giai đoạn dịch bệnh thuyên giảm. Các biện pháp hỗ trợ được thực hiện thông qua CSTT và CSTT.  

 Các biện pháp được thực thi bởi CSTK: Thực hiện chủ trương của Chính phủ, Bộ Tài chính đã triển khai nhiều giải pháp hỗ trợ như: gia hạn thuế, miễn giảm nhiều khoản phí, lệ phí, cũng như nhiều giải pháp để cân đối ngân sách Nhà nước. Cụ thể như: (i) Đầu tư nghiên cứu, sản xuất vaccine và thiết bị y tế (tương tự như Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đức, Ấn Độ, Philippines…); (ii) Trợ cấp người lao động tự do, mất việc chưa được nhận trợ cấp thất nghiệp, lao động mất việc từ 14 ngày trở lên, hộ kinh doanh cá thể có thu nhập dưới 100 triệu đồng/năm, hộ kinh doanh ngừng kinh doanh từ ngày 1/4/2020 (tương tự như Anh, Hàn Quốc,…); (iii) Trợ cấp bằng tiền mặt cho hộ nghèo, hộ cận nghèo, người có công với cách mạng (tương tự như Úc, Mỹ, Đức…); (vi) Gia hạn nộp thuế: Cho phép giãn, hoãn nộp thuế thu nhập DN, thuế thu nhập cá nhân, tiền thuê đất (tương tự như Mỹ, EU, Pháp, Trung Quốc, …); (v) Giảm thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập DN, thuế thu nhập cá nhân (tương tự như Trung Quốc, Singapore,…); (vi) Giảm 10% giá bán lẻ điện cho các ngành sản xuất và kinh doanh; (vii) Tạm dừng đóng BHXH vào quỹ hưu trí và tử tuất; (viii) Lùi thời điểm đóng kinh phí công đoàn và (ix) Giảm, miễn nhiều loại phí, lệ phí như: Miễn lệ phí môn bài đối với hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp; giảm mức thu lệ phí đăng ký doanh nghiệp; giảm mức phí công bố thông tin doanh nghiệp; Giảm phí trước bạ xe ôtô sản xuất hoặc lắp ráp trong nước, giảm giá và miễn hoàn toàn không thu đối với 15 loại dịch vụ chứng khoán… 

 

 Với CSTT: Chính phủ giao cho Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) chỉ đạo các tổ chức tín dụng (TCTD) cân đối, đáp ứng đầy đủ, kịp thời nhu cầu vốn phục vụ sản xuất kinh doanh, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, rút ngắn thời gian xét duyệt hồ sơ vay vốn, nâng cao khả năng tiếp cận vốn vay của khách hàng; kịp thời áp dụng các biện pháp hỗ trợ đối với khách hàng gặp khó khăn do ảnh hưởng của dịch COVID-19. Các giải pháp NHNN đã triển khai có thể được cụ thể hoá như sau: (i) Hạ lãi suất điều hành tạo định hướng lãi suất và giảm lãi suất cho các TCTD (qua kênh cho vay tái cấp vốn, tái chiết khấu) để các TCTD có thể hạ lãi suất cho vay; (ii) Hạ lãi suất vay vốn cho khách hàng với mức giảm phổ biến từ 0,5-2%, thậm chí từ 2,5 - 4%/năm ở một số ngân hàng lớn (VietinBank, Vietcombank, Techcombank…); (iii) Cơ cấu lại thời hạn trả nợ; (iv) Miễn giảm các khoản lãi vay; (v) Giữ nguyên nhóm nợ; (vi) Giảm chi phí thanh toán; và (vii) Cho vay tiền để trả lương ngừng việc cho người lao động từ Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH). 

  Nhìn chung, các giải pháp được triển khai từ CSTK và CSTT đều thiết thực vì hướng đến mục tiêu gia tăng sức chịu đựng của nền kinh tế trong bối cảnh đại dịch, như tăng chi ngân sách cho việc ngăn chặn và kiểm soát dịch bệnh, tăng cường đầu tư nghiên cứu, sản xuất vaccine và thiết bị y tế; đảm bảo an sinh xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, chi trợ cấp cho người lao động, các đối tượng dễ bị tổn thương; giảm thuế cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ; khuyến khích sản xuất, nhằm vực lại niềm tin tiêu dùng, vực lại niềm tin kinh doanh, tạo việc làm và giảm tỷ lệ thất nghiệp. 

  Tuy nhiên, hiệu quả của các giải pháp được triển khai trên cơ sở các gói hỗ trợ còn khá nhiều vấn đề cần bàn. Theo kết quả khảo sát được trình bày trong báo cáo “Đánh giá và khuyến nghị chính sách ứng phó với COVID-19”, do Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (ĐHKTQD) phối hợp với Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản tại Việt Nam (JICA) thực hiện (đăng ngày 15/01/2021), trên 380 doanh nghiệp tại 3 tỉnh/thành phố: Hà Nội, TP.HCM... Hồ Chí Minh và Thanh Hóa chỉ có 22,25% DN được hỗ trợ và “hiệu quả của các chính sách hỗ trợ là khác nhau, tùy thuộc vào việc có  chính sách đã phát huy tác dụng tốt, trong khi nhiều chính sách khác thì hiệu quả  rất hạn chế. " 

 Trước  lựa chọn chính sách  ứng phó với đại dịch, nhiều ý kiến ​​đề nghị nên tập trung vào chính sách tài khóa. Theo TS Trần Hùng Sơn: “Nhiều chuyên gia kinh tế cho rằng để giải quyết cuộc khủng hoảng do đại dịch COVID-19 gây ra, cần sử dụng công cụ chính là chính sách tài khóa, còn chính sách tiền tệ sẽ đóng vai trò hỗ trợ” [12 ]. Hay nhóm chuyên gia Viện Đào tạo và Nghiên cứu BIDV cũng nhận định “dư địa chính sách tiền tệ đang dần  thu hẹp lại do lãi suất đã ở mức rất thấp và thường chỉ mang tính thời điểm, cấp bách; do đó, các quốc gia tập trung nhiều hơn vào chính sách tài khóa. [13] 

 

 MỐI QUAN HỆ GIỮA KHU VỰC VÀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ 

 

 Thực tế đã chứng minh, để ứng phó với đại dịch  cần  có sự phối hợp giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ 

 

 Trong đại dịch, khi nền kinh tế bị đóng cửa, nhiều doanh nghiệp phải ngừng hoạt động, nhưng hầu hết doanh nghiệp và người tiêu dùng  vay nợ vẫn phải trả nợ, doanh nghiệp vẫn phải trả lương cho nhân viên, người dân vẫn phải trả hóa đơn. nhà ở, điện và các hàng hóa, dịch vụ thiết yếu khác. Khi tình trạng đóng cửa  kinh tế kéo dài mà không có sự trợ giúp của chính phủ, nó có thể dẫn đến  làn sóng vỡ nợ, phá sản và thị trường tài chính và tiền tệ phải vật lộn để tránh  những thảm họa Tam điểm nghiêm trọng. Trước tình hình đó, cả CSTK và CSTK đều phải có trách nhiệm cứu  nền kinh tế. Mỗi chính sách đều có những mặt tích cực của nó, nhất là trong điều kiện nền kinh tế  chịu nhiều hậu quả nặng nề, rất khó  từ chối hoặc lựa chọn chính sách  giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ. Giống như hầu hết các nước, đối với chính sách tài khóa, Việt Nam cũng đã dành một khoản ngân sách đáng kể để hỗ trợ tiền trực tiếp cho người lao động và hộ gia đình; Đối với doanh nghiệp, việc thực hiện các chính sách miễn, giảm, giảm thuế... Quả thực, chính sách thuế đã đóng vai trò hết sức quan trọng trong cuộc chiến chống lại tác động của dịch COVID-19. Không chỉ nhằm phục hồi nền kinh tế, chính sách tài khóa còn hướng tới giảm  bất bình đẳng, khôi phục niềm tin của doanh nghiệp và người dân vốn đã bị suy yếu trong đại dịch. Ngoài ra, không giống như chính sách tiền tệ, chính sách tiết kiệm có thể bơm tiền trực tiếp vào người dân và doanh nghiệp, đồng thời  cũng phù hợp hơn để cứu trợ  những người cần nó nhất trong thời kỳ khủng hoảng - nhanh chóng điều chỉnh thanh khoản. , trực tiếp giảm áp lực chi phí cho  doanh nghiệp và người lao động trong thời điểm khó khăn, hạn chế tốc độ suy giảm nhu cầu tiêu dùng của  cá nhân và doanh nghiệp, qua đó giúp các chủ thể này vượt qua giai đoạn khó khăn và  tăng khả năng  phục hồi khi nền kinh tế thoát khỏi  suy thoái.



Chính sách tài khóa kịp thời, “vắc-xin” cho tăng trưởng | Thời báo Tài  chính Việt Nam

Nội dung bài viết:

    Hãy để lại thông tin để được tư vấn

    comment-blank-solid Bình luận

    084.696.7979 19003330 Báo giá Chat Zalo