Chế định Quốc hội trong Hiến pháp việt Nam năm 2013

Là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, Quốc hội thể hiện bản chất dân chủ của nhà nước, xét trong Hiến pháp, hệ thống chính trị nói chung và bộ máy nhà nước, Quốc hội luôn chiếm một vị trí quan trọng trong các quy định pháp luật, trước hết là , Hiến pháp. đặc biệt. Lần sửa đổi gần đây nhất (2013) đối với Hiến pháp năm 1992 của Việt Nam chắc chắn đã đưa ra những cải cách lớn đối với thể chế của Quốc hội. Cùng tham khảo bài viết bên dưới nhé.

1. Vị trí, tính chất, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Quốc hội

Vị trí của Quốc hội trong bộ máy nhà nước
Trong bộ máy nhà nước, Quốc hội có vị trí quan trọng đặc biệt. Hiến pháp năm 1946, tại Điều 22 đã xác định “Nghị viện nhân dân là cơ quan quyền lực cao nhất của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa”. Tại Hiến pháp năm 1959, Điều 43 chỉ thay từ “Nghị viện” bằng từ Quốc hội và vẫn giữ nguyên nội dung như Điều 22 Hiến pháp năm 1946. Hiến pháp năm 1980 (sau khi thống nhất đất nước) và Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) cũng với tinh thần đó nhưng được thể hiện rõ ràng, đầy đủ hơn. Điều 83 Hiến pháp năm 1992 khẳng định: Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Hiến pháp năm 1992 sửa đổi, bổ sung năm 2013 (sau đây gọi là Hiến pháp sửa đổi 2013) tiếp tục khẳng định vị trí, tính chất, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Quốc hội như bốn bảnHiến pháp trước, song về mức độ đã được điều chỉnh cho phù hợp hơn với thực tiễn, nội dung được thể hiện cô đọng và gọn hơn. Điều 69 Hiến pháp năm 2013 xác định “Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.
Tính chất của Quốc hội
Về tính chất, ngay từ Hiến pháp năm 1946, Điều 1 đã nói rõ: “Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”. Đến Hiến pháp năm 1959 tính chất trên tiếp tục được khẳng định tại Điều 4 “Tất cả quyền lực trong nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đều thuộc về nhân dân”. Hiến pháp năm 1980 khẳng định lại một lần nữa tại Điều 6: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tất cả quyền lực thuộc về nhân dân”. Đến Hiến pháp năm 1992, tính chất này đã được khẳng định rõ ràng, mạnh mẽ và khúc chiết hơn tại Điều 2: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân...”. Hiến pháp năm 2013 tiếp tục khẳng định tính chất này và nhấn mạnh: “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ...”.
Với vị trí và tính chất như trên, Quốc hội đóng vai trò chủ quyền Nhà nước và chủ quyền nhân dân. Mọi quyền lực nhà nước được tập trung vào Quốc hội. Mọi công việc trọng đại của đất nước và của nhân dân có ý nghĩa toàn quốc đều do Quốc hội quyết định.
Nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội
Đến Hiến pháp sửa đổi 2013, nhiệm vụ và quyền hạn của Quốc hội được quy định toàn diện, đầy đủ hơn so với các Hiến pháp trước đó.
Quốc hội thực hiện quyền lập hiến và quyền lập pháp, nhưng để bảo đảm cho hoạt động này có hiệu quả, pháp luật đã quy định quy trình các bước, các công đoạn cụ thể phải tuân thủ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Về hoạt động giám sát, Quốc hội có quyền giám sát các hoạt động của Nhà nước về việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật. Các chủ thể có quyền giám sát gồm Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội. Quốc hội có quyền quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước như mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội; những vấn đề quốc kế dân sinh, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; phê chuẩn hoặc bãi bỏ các điều ước quốc tế hoặc tham gia theo đề nghị của Chủ tịch nước. Quốc hội có vai trò đặc biệt trong việc xây dựng, củng cố bộ máy nhà nước từ Trung ương đến địa phương, bầu hoặc phê chuẩn các chức vụ cấp cao trong bộ máy nhà nước ở Trung ương.
Hình thức và kỹ thuật lập hiến
Ở Hiến pháp năm 1992, Quốc hội thuộc chế định thứ sáu, theo thứ tự là chương VI (từ Điều 83 đến Điều 100). Đến Hiến pháp  năm 2013, Quốc hội thuộc chế định thứ năm, được xếp ở chương V (từ Điều 69 đến Điều 85).

2. Chế định về Quốc hội trong Hiến pháp 2013

Vị trí, tính chất của Quốc hội trong bộ máy nhà nước (Điều 69)
Về địa vị, tính chất của Quốc hội trong bộ máy nhà nước, có một thay đổi cơ bản là: Hiến pháp trước đây quy định: “Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp”, nay quy định lại: “Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp”. quyền hạn…”.
Từ “cơ quan duy nhất có quyền lực” trở thành cơ quan “thực thi quyền lập hiến, quyền lập pháp”, trước hết là sự thay đổi về chất. Nếu nói “chỉ có quyền” thì thực ra có người hiểu là “độc quyền” và đặt câu hỏi: liệu 500 đại biểu quốc hội đại diện cho nhân dân cả nước (80 đến 90 triệu dân trong nước) có “đạo luật nguyên thủy” được không? " và các luật thực tế khác? Trên thực tế, Hiến pháp cũng như các đạo luật khác, nếu được nhiều người, nhiều cơ quan, tổ chức, đoàn thể và cá nhân ủng hộ, từ nhiều góc độ, góc nhìn khác nhau, đóng góp ý kiến ​​đa chiều, nhiều khía cạnh và được tổng hợp, chắt lọc thành một lăng kính hội tụ, Chất lượng chắc chắn sẽ cao hơn rất nhiều. Đó chính xác là những gì chúng tôi đang làm ngay bây giờ.
Thứ hai là sự thay đổi về phạm vi, mức độ được thiết kế để thể hiện thực tế thực tế đang diễn ra. Theo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2008, một đạo luật trải qua 6 giai đoạn chính từ “hình thành” đến “phá lệ”: Đưa vào quy trình lập pháp (1); Soạn thảo văn bản luật (2); Xem xét dự án luật ( 3); Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét ý kiến ​​(4); thảo luận, tiếp thu, chỉnh lý và thông qua (5); công bố luật (6). Quốc hội có liên quan và chịu trách nhiệm trước tất cả mọi người. Thao tác trực tiếp chủ yếu tập trung vào 3 khâu quan trọng (3), (4) và (5). Tuy nhiên, trong cả ba giai đoạn, những người trình dự án luật, đặc biệt là chính phủ (khoảng 90% dự án luật trình Quốc hội) đều phải tham gia đầy đủ.
Cũng cần nói thêm rằng, trước khi trình Quốc hội, ban soạn thảo phải lấy ý kiến ​​của đối tượng có thẩm quyền áp dụng và thẩm quyền của luật hoặc của nhân dân (tuỳ theo từng luật); để phục vụ công tác thẩm tra, thẩm tra. cơ quan thẩm tra cũng lấy ý kiến ​​tương tự thông qua khảo sát, giám sát. Như vậy thực ra không phải “Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp” mà có rất nhiều cơ quan, hiệp hội, tổ chức, đơn vị và cá nhân (từ người dân đến chính quyền, đến các nhà khoa học) tham gia vào, thậm chí ngay từ đầu. . Vì vậy, việc quy định lại theo mức độ là hợp lý và phù hợp với thực tế khách quan.
Nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội (Điều 70)
Điều này quy định nhiệm vụ và quyền hạn của Quốc hội theo Mười lăm điểm. Về nội dung, có những thay đổi quan trọng, bao gồm:
Điều 1, Quốc hội không còn nhiệm vụ và quyền hạn “quy định luật/quy định”. Vấn đề này có thể hiểu là Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội sẽ xây dựng các luật, nghị định theo yêu cầu của đời sống kinh tế - xã hội trên cơ sở thực tiễn đặt ra hàng năm, từng thời kỳ.
Khoản 2, về thẩm quyền của cơ quan giám sát tối cao và xem xét báo cáo công tác của cơ quan nhà nước, nội dung của điều này không có nhiều thay đổi, trừ việc bổ sung hai chủ thể chịu trách nhiệm báo cáo trước Quốc hội, đó là “ Ủy ban Bầu cử Quốc gia, Văn phòng Kiểm toán Quốc gia và Tổ chức Quốc hội Các cơ quan khác của "Chủ tịch nước, Ủy ban Thường vụ Quốc hội" và các cơ quan khác. Quốc hội, chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Sự thay đổi này xảy ra do Hiến pháp 2013 đã bổ sung hai cơ quan hiến định (hai cơ quan) riêng biệt trong Chương Mười, đó là Ủy ban Bầu cử Quốc gia và Văn phòng Kiểm toán Quốc gia. Mặt khác, trong tương lai, khi thật cần thiết, Quốc hội cũng có thể thành lập các cơ quan độc lập khác. Vì các cơ quan này nằm trong phạm vi hoạt động của Quốc hội nên chúng phải được đưa vào nhiệm vụ và phạm vi hoạt động của Quốc hội.
Cũng phải nói thêm rằng, việc hiến định các thiết chế độc lập nói trên giúp làm rõ chủ quyền của nhân dân, làm rõ cơ chế phân bổ và phối hợp kiểm soát quyền lực, hoàn thiện bộ máy nhà nước. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Đoạn thứ ba được định nghĩa lại là: “Xác định mục tiêu, chỉ tiêu, chính sách và nhiệm vụ cơ bản phát triển kinh tế - xã hội của đất nước”. Việc thay đổi “kế hoạch” thành “mục tiêu, mục tiêu, chính sách và nhiệm vụ cơ bản” là hợp lý, cần thiết và phù hợp với nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội. Căn bản là “nhân tố chung” của các mục tiêu, chỉ tiêu, chủ trương, nhiệm vụ chứ không chỉ là những nhiệm vụ cơ bản. Quốc hội chỉ quyết định những vấn đề cơ bản, then chốt, “xương sống” của chương trình chứ không quyết định toàn bộ chương trình như hiện nay. Có nhiều đề án, số liệu định lượng, định tính, mục tiêu và chương trình thực hiện trong một kế hoạch, Quốc hội không làm thay công việc cụ thể, chi tiết của cơ quan hành pháp. Chính phủ sẽ có quyết định cụ thể và báo cáo Quốc hội. Do đó, quy định trên là đúng.
Khoản 4 có hai vấn đề mới cần lưu ý:
Thứ nhất, Đại hội quyết định nguyên tắc phân định nhiệm vụ thu, chi giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương. Đây là nội dung được thể hiện trong chương thứ ba của “Luật ngân sách quốc gia” hiện hành, đã được thực hiện nhiều năm, nhiều kỳ họp và đã thành nền nếp. Ngân sách nhà nước là vấn đề cực kỳ quan trọng trong hoạch định phát triển kinh tế - xã hội. Đại hội quyết định mục đích, mục tiêu, chính sách, nhiệm vụ cơ bản phát triển kinh tế, xã hội của đất nước nên phải quyết định vấn đề cơ bản của ngân sách, đó là phân chia nhiệm vụ thu, chi. Tuy nhiên, Quốc hội không quyết định tiêu thức phân bổ cụ thể mà chỉ đưa ra nguyên tắc phân bổ định hướng cho việc phân bổ cụ thể. Vì vậy, Hiến pháp quy định quyền xác định nguyên tắc phân chia thu, chi giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương, đồng thời cần giao nhiệm vụ này cho Quốc hội theo nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội. chính phủ. .Hội nghị.

Thứ hai, Quốc hội xác định mức độ an toàn của nợ quốc gia, nợ công và nợ chính phủ. Đây là nhiệm vụ, quyền hạn rất mới. Người ta có thể hỏi, tại sao Quốc hội phải xác định giới hạn của các loại nợ nói trên? Lấy nợ công làm ví dụ: Nợ công của Việt Nam năm 2001 chỉ là 11,5 tỷ USD, tương đương 36% GDP thì đến năm 2010, nợ công đã lên tới 55,2 tỷ USD, tương đương 53,3% GDP. Như vậy, trong 10 năm, quy mô nợ công đã tăng gần gấp 5 lần, tốc độ tăng nợ công là 15%/năm, nếu tiếp tục tốc độ này thì chỉ 5 năm nữa, đến năm 2016, nợ công của Việt Nam sẽ vượt 100%. GDP như Hy Lạp (133,6%) và Ireland (129,2), hai quốc gia thành viên EU vừa rơi vào khủng hoảng. Nợ công hơn 100% không phải là con số nhỏ đối với một nền kinh tế vừa và nhỏ đang phát triển như Việt Nam chủ yếu dựa vào xuất khẩu nông sản thô và xuất khẩu công nghiệp nhẹ[1]. Do đó, quy định mới là đúng đắn và cần thiết là Quốc hội phải xác định giới hạn nợ quốc gia, nợ công, nợ chính phủ[2]. Điều 7 có hai vấn đề quan trọng:
Thứ nhất, tách việc lấy phiếu tín nhiệm thành một nhiệm vụ, quyền hạn riêng được thảo luận tại Mục 8 dưới đây. Thứ hai, việc bổ nhiệm, miễn nhiệm các thẩm phán của Tòa án nhân dân tối cao cũng được Quốc hội thông qua, vì tại Chương 6 về chế định Chủ tịch nước, Điều 88 khoản 3 bổ sung thêm nhiệm vụ, quyền hạn. Quyền hạn của tổng thống là: bổ nhiệm và bãi nhiệm các thẩm phán từ các tòa án khác theo cải cách tư pháp, và do đó trước tiên phải được Quốc hội phê chuẩn.
Điều 8 bổ sung nhiệm vụ, quyền hạn thứ tám của Quốc hội: “bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn”. Phiếu tín nhiệm là nội dung bổ sung Điều khoản thứ 7 (cũ) của Điều khoản sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 2001, là một bước tiến trong việc giám sát, kiểm soát quyền hạn. Hiện vấn đề này ngày càng trở nên cấp thiết, không thể không đẩy nhanh tiến độ thực hiện. Vì vậy, kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Nghị quyết số 35/QH12/ ngày 21 tháng 11 năm 2012 tiến hành lấy phiếu tín nhiệm và bỏ phiếu tín nhiệm đối với những người ứng cử do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn. Lần này, hiến pháp đã nâng từ “quy định” thành “quyền hạn” ngang bằng với các quyền hạn khác của Quốc hội. "Bỏ phiếu tín nhiệm" là việc quy định các nhiệm vụ và quyền hạn "độc lập" với các nhiệm vụ và quyền hạn khác của Quốc hội, và hoàn toàn phù hợp với những gì hiện tại (và đang được theo đuổi mạnh mẽ trên toàn quốc). Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương khóa XI - Một số nhiệm vụ cấp bách đối với công tác xây dựng Đảng hiện nay). Nhiệm vụ này sẽ góp phần thúc đẩy những người giữ vị trí quan trọng trong bộ máy nhà nước thực hiện nhiệm vụ kịp thời, tích cực và có tính “răn đe” hơn, qua đó cũng đáp ứng tốt hơn kỳ vọng của cử tri.
Điều 14 quy định về thẩm quyền của Chủ tịch nước (Điều 93, Khoản 6) quyết định nhân danh Nhà nước đàm phán, ký điều ước quốc tế; trình Quốc hội phê chuẩn điều ước hoặc quyết định phê chuẩn, gia nhập gia hạn hoặc chấm dứt điều ước quốc tế theo thẩm quyền do Quốc hội quy định (Điều 7, Khoản 14, Khoản 14). Sửa đổi, bổ sung nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước không thuộc phạm vi của chuyên đề này nhưng có liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội. Trong đó, Điều 93 khoản 6 cơ bản đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Trước đây, Quốc hội "... phê chuẩn hoặc bãi bỏ điều ước quốc tế do Chủ tịch nước trực tiếp ký; phê chuẩn hoặc bãi bỏ điều ước quốc tế khác do Chủ tịch nước ký kết hoặc gia nhập theo đề nghị của Chủ tịch nước." Nay, trên cơ sở các Điều 6, 93, 14, 75 mới được xác định lại là: Quốc hội “... phê chuẩn, quyết định gia nhập hoặc chấm dứt hiệu lực điều ước quốc tế về chiến tranh, hòa bình, chủ quyền quốc gia. , việc nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam gia nhập các tổ chức quốc tế và khu vực quan trọng, điều ước quốc tế về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, điều ước quốc tế khác trái luật, nghị quyết của Quốc hội.
Quy định mới này là hoàn toàn cần thiết vì hai lý do cơ bản:

Thứ nhất, Điều 84 Hiến pháp 1992 chưa đề cập cụ thể những vấn đề lớn như chiến tranh và hòa bình, chủ quyền quốc gia, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Bây giờ thời kỳ quá độ xã hội chủ nghĩa của đảng (bổ sung phát triển năm 2011) trong cương lĩnh thành lập đảng đã nêu rõ “tình hình quốc tế đã có những biến đổi to lớn và sâu sắc”, thậm chí khó lường, thì các điều ước quốc tế về những vấn đề quan trọng này (trực tiếp hoặc liên quan) không thể không được Quốc hội xem xét phê chuẩn hoặc không phê chuẩn. Vì vậy, đó là một khoản tiền gửi rất hợp pháp của Quốc hội. Thứ hai, sau năm 1992, nước ta đã tham gia nhiều tổ chức quốc tế như ASEAN, Hội nghị Á-Âu, Hợp tác kinh tế châu Á-Thái Bình Dương, WTO và nhiều tổ chức của Liên hợp quốc như Chương trình phát triển Liên hợp quốc, Quỹ dân số, UNESCO.. .Trong tương lai gần, nước ta chắc chắn sẽ tham gia vào các tổ chức quốc tế khác. .Việc gia nhập tổ chức này hay tổ chức khác cũng cần được Quốc hội cân nhắc để bảo vệ lợi ích của đất nước, của dân tộc, xây dựng nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa phồn vinh, giàu mạnh. Mặt khác, chúng ta cũng tuyên bố Việt Nam “là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế” (Văn kiện Đại hội XI Đảng Cộng sản Trung Quốc, tr. 234). Vì vậy, Quốc hội coi việc phê chuẩn là thuộc thẩm quyền của Quốc hội (như việc phê chuẩn việc Việt Nam gia nhập WTO năm 2007).
Nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban thường vụ Quốc hội (Điều 74)
Ủy ban thường vụ Quốc hội có 13 nhiệm vụ, quyền hạn, với những nội dung mới sau đây:
Thứ nhất, Ủy ban Thường vụ Quốc hội không còn nhiệm vụ “tuyên bố và chủ trì việc bầu cử đại biểu Quốc hội” do nhiệm vụ này đã được giao cho Hội đồng bầu cử quốc gia (cơ quan mới độc lập).
So với Điều 91 của Hiến pháp năm 1992, Điều 5 có hai điều mới. Đoạn thứ nhất thuộc về giám sát, được xác định là nhiệm vụ, quyền hạn thứ ba (Điều 3): “Giám sát việc thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, nghị định, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội .” Quốc hội phục vụ; Giám sát của Chính phủ, Tối cao Hoạt động của Tòa án Nhân dân, Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao, Văn phòng Kiểm toán Quốc gia và các cơ quan khác do Quốc hội thành lập. Điều 74 Hiến pháp 2013 đã bổ sung khoản 4 khoản 2 quy định văn bản vi phạm Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội thì có quyền đình chỉ việc thi hành và trình Quốc hội bãi bỏ hiệu lực. Văn bản của chính phủ, thủ tướng chính phủ, tòa án nhân dân tối cao, viện kiểm sát nhân dân tối cao. Và bãi bỏ trực tiếp các văn bản của chính phủ, thủ tướng, tòa án nhân dân tối cao, viện kiểm sát. Tòa án nhân dân tối cao đã vi phạm nghị định, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Hai việc trên có nội hàm khác nhau (giám sát và xử lý hậu kỳ), quy trình vận hành của hai công việc cũng khác nhau nên cần phân biệt rõ ràng và chuẩn hóa.
Một nhiệm vụ mới là: “Xác định việc thành lập, bãi bỏ, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương” (Điều 8). Điều này trước đây là trách nhiệm và quyền hạn của chính phủ. Việc thực thi gợi ý ít nhất hai tình huống không hợp lý. Thứ nhất, cũng giống như việc thành lập, chia, nhập, điều chỉnh địa giới các đơn vị hành chính, một số (đơn vị hành chính cấp tỉnh) do cơ quan lập pháp (Quốc hội) thực hiện, số còn lại (đơn vị hành chính cấp huyện) thực hiện. bởi các cơ quan hành pháp (chính phủ). Thứ hai, do sự bất hợp lý trên, có những vấn đề cụ thể khó giải quyết. Điều chỉnh địa giới hành chính huyện thuộc tỉnh nhưng huyện đó giáp ranh với tỉnh khác (tức là chỉ điều chỉnh địa giới hành chính huyện mà còn điều chỉnh địa giới hành chính tỉnh, nếu chính quyền làm như vậy sẽ có vướng mắc cấp tỉnh). địa giới hành chính, nếu Quốc hội làm như vậy sẽ trùng lặp với nỗ lực của Chính phủ trong việc điều chỉnh địa giới hành chính các vùng). Do đó, quyền hạn này phải được giảm xuống một nhiệm kỳ.
Tuy nhiên, có sự phân quyền: Quốc hội xử lý các tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương, trong khi Ủy ban Thường vụ Quốc hội xử lý các quận, huyện, thị xã, thủ đô và báo cáo trước Quốc hội. Việc sửa đổi này là cần thiết và chặt chẽ.
Một nhiệm vụ và quyền hạn có thể nói là “vừa mới, vừa cũ”, đó là Điều 12, nhiệm vụ và quyền hạn của Ủy ban Thường vụ Quốc hội là “thông qua đề nghị bổ nhiệm, miễn nhiệm ĐBQH”. đặc sứ" về nước. Quyền của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Hiến pháp 2013 quy định nhiệm vụ này kế thừa quy định của Hiến pháp 1959 và Hiến pháp 1980. Vì chức đại sứ là đại sứ đặc mệnh toàn quyền và là đại diện đặc mệnh toàn quyền của nước ta (công dân) Vì vậy, Ủy ban Thường vụ Quốc hội phải tán thành việc Chủ tịch nước bổ nhiệm, bổ nhiệm, miễn nhiệm đại sứ là hợp lý, đúng đắn và phù hợp với thông lệ quốc tế.
Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội (các điều 75, 76, 77 và 78)
Có nhiều điều giờ đã trở thành “tất yếu” như quy định: hội đồng quốc gia, ủy ban có nhiều thành viên chuyên trách, hay chủ tịch hội đồng quốc gia được dự họp. Quốc hội... là không thể thiếu nên không cần ghi vào hiến pháp, nó đã bị bãi bỏ.
Xét từ tính chất hoạt động của Đại hội và yêu cầu của công tác cán bộ, Hiến pháp năm 2013 đã quy định thiết chế của Đại hội đã được điều chỉnh theo phân cấp quản lý cán bộ. Quốc hội chỉ bầu Chủ tịch Hội đồng dân tộc, Chủ nhiệm Ủy ban; Phó Chủ tịch Hội đồng dân tộc, Phó Chủ nhiệm các ban, các ban và Ủy viên Ủy ban do Ủy ban thường vụ Quốc hội phê chuẩn. Chúng tôi cho rằng việc phân quyền như vậy là hợp lý, tương tự như công tác quản lý cán bộ của Đảng (bộ trưởng… do Bộ Chính trị quản lý, thứ trưởng… do Ban Bí thư quản lý), nhưng cũng cần xem xét thực tế quy trình. thực hiện công việc này, ai là người giới thiệu các Phó Chủ nhiệm và Ủy viên Ủy ban Dân tộc và các Phó Chủ tịch Ủy ban và Ủy viên Ủy ban (do các Ủy ban Thường vụ Quốc hội giới thiệu trước đây). Trong tương lai, khi Luật Tổ chức Quốc hội (mới) được xây dựng, cần phải cụ thể hóa quy trình thực hiện quy định này.
Là kết quả của các hoạt động giám sát của Quốc hội (theo Đạo luật Giám sát của Quốc hội năm 2003), Hiến pháp 2013 đã chính thức hóa một cơ quan mới, Ủy ban lâm thời. Hội nghị. Từ Đại hội XI đến nay, Quốc hội đã thành lập đoàn giám sát (thực chất là ủy ban lâm thời) để xử lý nhiều vấn đề. Hầu hết các trường hợp này là những trường hợp oan, sai hoặc các vấn đề kinh tế nghiêm trọng. Vì vậy, Hiến pháp 2013 quy định về ủy ban lâm thời, cụ thể là Điều 78 như sau: “Quốc hội khi cần thiết thành lập ủy ban lâm thời để nghiên cứu, thẩm tra, điều tra một vấn đề”.
Đại biểu Quốc hội (điều 79, 80, 81 và 82)
Nhìn chung, nội dung quyền đại diện của quốc hội không có nhiều thay đổi, trừ một sửa đổi khoản 1 của Điều 82, theo đó quy định mới được sửa đổi. “Đại biểu Quốc hội có trách nhiệm thực hiện đầy đủ nhiệm vụ đại biểu”  được thay cho quy định cũ: “
Đại biểu Quốc hội phải dành thời gian để làm nhiệm vụ đại biểu”. Quy định mới nhằm đề cao hơn nữa trách nhiệm của đại biểu và khẳng định rằng, dù là đại biểu chuyên trách hay đại biểu kiêm nhiệm thì dứt khoát cũng phải làm tròn nhiệm vụ của mình. Cũng tại khoản 1 Điều 82 có một quy định mới, đại biểu Quốc hội “có quyền tham gia làm thành viên của Hội đồng dân tộc hoặc Ủy ban của Quốc hội”. Trước đây, khi chưa có quy định này, đã xảy ra tình trạng: người được cơ cấu làm thành viên thì không muốn được cơ cấu, người không được cơ cấu thì lại muốn. Vì vậy việc ổn định tổ chức để đi vào hoạt động có phần phức tạp và tiêu tốn nhiều thời gian. Nay quy định “mở” như trên vừa phù hợp với nguyện vọng của đại biểu, vừa nhanh chóng ổn định tổ chức các cơ quan của Quốc hội.
Kỹ thuật lập hiến
Trừ Điều 81, còn lại các điều có nhiều nội dung đều được cấu tạo thành các khoản cho dứt khoát và mạch lạc hơn (quy định cũ không có điều nào chia thành khoản).
Nói tóm lại, chế định về Quốc hội trong Hiến pháp năm 2013 tiếp tục được khẳng định về mô hình tổ chức và bản chất của nó trong tổng thể hệ thống chính trị đã được xác định tại Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) và Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, XI của Đảng, kế thừa tinh hoa của các bản Hiến pháp trước và tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm nước ngoài. Vị trí, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức bộ máy của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội được quy định đầy đủ, chặt chẽ và hoàn thiện hơn, phù hợp với tình hình đất nước trong giai đoạn hiện nay và tầm nhìn đến đầu những năm 30 của thế kỷ này.
Trên đây là nội dung về Chế định Quốc hội trong Hiến pháp việt Nam năm 2013 Luật ACC cập nhật được xin gửi đến các bạn đọc, hi vọng với nguồn thông tin này sẽ là nguồn kiến thức hữu ích giúp các bạn hiểu hơn vấn đề trên. Trong quá trình tìm hiểu nếu có vấn đề thắc mắc vui lòng liên hệ công ty Luật ACC để được hỗ trợ ngay. Hãy theo dõi website của chúng tôi để nhận được các bài viết hay về các lĩnh vực khác nữa nhé.

Nội dung bài viết:

    Hãy để lại thông tin để được tư vấn

    comment-blank-solid Bình luận

    084.696.7979 19003330 Báo giá Chat Zalo