1. Vị trí, tính chất, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Quốc hội
2. Chế định về Quốc hội trong Hiến pháp 2013
Từ “cơ quan duy nhất có quyền lực” trở thành cơ quan “thực thi quyền lập hiến, quyền lập pháp”, trước hết là sự thay đổi về chất. Nếu nói “chỉ có quyền” thì thực ra có người hiểu là “độc quyền” và đặt câu hỏi: liệu 500 đại biểu quốc hội đại diện cho nhân dân cả nước (80 đến 90 triệu dân trong nước) có “đạo luật nguyên thủy” được không? " và các luật thực tế khác? Trên thực tế, Hiến pháp cũng như các đạo luật khác, nếu được nhiều người, nhiều cơ quan, tổ chức, đoàn thể và cá nhân ủng hộ, từ nhiều góc độ, góc nhìn khác nhau, đóng góp ý kiến đa chiều, nhiều khía cạnh và được tổng hợp, chắt lọc thành một lăng kính hội tụ, Chất lượng chắc chắn sẽ cao hơn rất nhiều. Đó chính xác là những gì chúng tôi đang làm ngay bây giờ.
Thứ hai là sự thay đổi về phạm vi, mức độ được thiết kế để thể hiện thực tế thực tế đang diễn ra. Theo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2008, một đạo luật trải qua 6 giai đoạn chính từ “hình thành” đến “phá lệ”: Đưa vào quy trình lập pháp (1); Soạn thảo văn bản luật (2); Xem xét dự án luật ( 3); Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét ý kiến (4); thảo luận, tiếp thu, chỉnh lý và thông qua (5); công bố luật (6). Quốc hội có liên quan và chịu trách nhiệm trước tất cả mọi người. Thao tác trực tiếp chủ yếu tập trung vào 3 khâu quan trọng (3), (4) và (5). Tuy nhiên, trong cả ba giai đoạn, những người trình dự án luật, đặc biệt là chính phủ (khoảng 90% dự án luật trình Quốc hội) đều phải tham gia đầy đủ.
Cũng cần nói thêm rằng, trước khi trình Quốc hội, ban soạn thảo phải lấy ý kiến của đối tượng có thẩm quyền áp dụng và thẩm quyền của luật hoặc của nhân dân (tuỳ theo từng luật); để phục vụ công tác thẩm tra, thẩm tra. cơ quan thẩm tra cũng lấy ý kiến tương tự thông qua khảo sát, giám sát. Như vậy thực ra không phải “Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp” mà có rất nhiều cơ quan, hiệp hội, tổ chức, đơn vị và cá nhân (từ người dân đến chính quyền, đến các nhà khoa học) tham gia vào, thậm chí ngay từ đầu. . Vì vậy, việc quy định lại theo mức độ là hợp lý và phù hợp với thực tế khách quan.
Nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội (Điều 70)
Điều này quy định nhiệm vụ và quyền hạn của Quốc hội theo Mười lăm điểm. Về nội dung, có những thay đổi quan trọng, bao gồm:
Điều 1, Quốc hội không còn nhiệm vụ và quyền hạn “quy định luật/quy định”. Vấn đề này có thể hiểu là Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội sẽ xây dựng các luật, nghị định theo yêu cầu của đời sống kinh tế - xã hội trên cơ sở thực tiễn đặt ra hàng năm, từng thời kỳ.
Khoản 2, về thẩm quyền của cơ quan giám sát tối cao và xem xét báo cáo công tác của cơ quan nhà nước, nội dung của điều này không có nhiều thay đổi, trừ việc bổ sung hai chủ thể chịu trách nhiệm báo cáo trước Quốc hội, đó là “ Ủy ban Bầu cử Quốc gia, Văn phòng Kiểm toán Quốc gia và Tổ chức Quốc hội Các cơ quan khác của "Chủ tịch nước, Ủy ban Thường vụ Quốc hội" và các cơ quan khác. Quốc hội, chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Sự thay đổi này xảy ra do Hiến pháp 2013 đã bổ sung hai cơ quan hiến định (hai cơ quan) riêng biệt trong Chương Mười, đó là Ủy ban Bầu cử Quốc gia và Văn phòng Kiểm toán Quốc gia. Mặt khác, trong tương lai, khi thật cần thiết, Quốc hội cũng có thể thành lập các cơ quan độc lập khác. Vì các cơ quan này nằm trong phạm vi hoạt động của Quốc hội nên chúng phải được đưa vào nhiệm vụ và phạm vi hoạt động của Quốc hội.
Cũng phải nói thêm rằng, việc hiến định các thiết chế độc lập nói trên giúp làm rõ chủ quyền của nhân dân, làm rõ cơ chế phân bổ và phối hợp kiểm soát quyền lực, hoàn thiện bộ máy nhà nước. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Đoạn thứ ba được định nghĩa lại là: “Xác định mục tiêu, chỉ tiêu, chính sách và nhiệm vụ cơ bản phát triển kinh tế - xã hội của đất nước”. Việc thay đổi “kế hoạch” thành “mục tiêu, mục tiêu, chính sách và nhiệm vụ cơ bản” là hợp lý, cần thiết và phù hợp với nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội. Căn bản là “nhân tố chung” của các mục tiêu, chỉ tiêu, chủ trương, nhiệm vụ chứ không chỉ là những nhiệm vụ cơ bản. Quốc hội chỉ quyết định những vấn đề cơ bản, then chốt, “xương sống” của chương trình chứ không quyết định toàn bộ chương trình như hiện nay. Có nhiều đề án, số liệu định lượng, định tính, mục tiêu và chương trình thực hiện trong một kế hoạch, Quốc hội không làm thay công việc cụ thể, chi tiết của cơ quan hành pháp. Chính phủ sẽ có quyết định cụ thể và báo cáo Quốc hội. Do đó, quy định trên là đúng.
Khoản 4 có hai vấn đề mới cần lưu ý:
Thứ nhất, Đại hội quyết định nguyên tắc phân định nhiệm vụ thu, chi giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương. Đây là nội dung được thể hiện trong chương thứ ba của “Luật ngân sách quốc gia” hiện hành, đã được thực hiện nhiều năm, nhiều kỳ họp và đã thành nền nếp. Ngân sách nhà nước là vấn đề cực kỳ quan trọng trong hoạch định phát triển kinh tế - xã hội. Đại hội quyết định mục đích, mục tiêu, chính sách, nhiệm vụ cơ bản phát triển kinh tế, xã hội của đất nước nên phải quyết định vấn đề cơ bản của ngân sách, đó là phân chia nhiệm vụ thu, chi. Tuy nhiên, Quốc hội không quyết định tiêu thức phân bổ cụ thể mà chỉ đưa ra nguyên tắc phân bổ định hướng cho việc phân bổ cụ thể. Vì vậy, Hiến pháp quy định quyền xác định nguyên tắc phân chia thu, chi giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương, đồng thời cần giao nhiệm vụ này cho Quốc hội theo nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội. chính phủ. .Hội nghị.
Thứ hai, Quốc hội xác định mức độ an toàn của nợ quốc gia, nợ công và nợ chính phủ. Đây là nhiệm vụ, quyền hạn rất mới. Người ta có thể hỏi, tại sao Quốc hội phải xác định giới hạn của các loại nợ nói trên? Lấy nợ công làm ví dụ: Nợ công của Việt Nam năm 2001 chỉ là 11,5 tỷ USD, tương đương 36% GDP thì đến năm 2010, nợ công đã lên tới 55,2 tỷ USD, tương đương 53,3% GDP. Như vậy, trong 10 năm, quy mô nợ công đã tăng gần gấp 5 lần, tốc độ tăng nợ công là 15%/năm, nếu tiếp tục tốc độ này thì chỉ 5 năm nữa, đến năm 2016, nợ công của Việt Nam sẽ vượt 100%. GDP như Hy Lạp (133,6%) và Ireland (129,2), hai quốc gia thành viên EU vừa rơi vào khủng hoảng. Nợ công hơn 100% không phải là con số nhỏ đối với một nền kinh tế vừa và nhỏ đang phát triển như Việt Nam chủ yếu dựa vào xuất khẩu nông sản thô và xuất khẩu công nghiệp nhẹ[1]. Do đó, quy định mới là đúng đắn và cần thiết là Quốc hội phải xác định giới hạn nợ quốc gia, nợ công, nợ chính phủ[2]. Điều 7 có hai vấn đề quan trọng:
Thứ nhất, tách việc lấy phiếu tín nhiệm thành một nhiệm vụ, quyền hạn riêng được thảo luận tại Mục 8 dưới đây. Thứ hai, việc bổ nhiệm, miễn nhiệm các thẩm phán của Tòa án nhân dân tối cao cũng được Quốc hội thông qua, vì tại Chương 6 về chế định Chủ tịch nước, Điều 88 khoản 3 bổ sung thêm nhiệm vụ, quyền hạn. Quyền hạn của tổng thống là: bổ nhiệm và bãi nhiệm các thẩm phán từ các tòa án khác theo cải cách tư pháp, và do đó trước tiên phải được Quốc hội phê chuẩn.
Điều 8 bổ sung nhiệm vụ, quyền hạn thứ tám của Quốc hội: “bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn”. Phiếu tín nhiệm là nội dung bổ sung Điều khoản thứ 7 (cũ) của Điều khoản sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 2001, là một bước tiến trong việc giám sát, kiểm soát quyền hạn. Hiện vấn đề này ngày càng trở nên cấp thiết, không thể không đẩy nhanh tiến độ thực hiện. Vì vậy, kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Nghị quyết số 35/QH12/ ngày 21 tháng 11 năm 2012 tiến hành lấy phiếu tín nhiệm và bỏ phiếu tín nhiệm đối với những người ứng cử do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn. Lần này, hiến pháp đã nâng từ “quy định” thành “quyền hạn” ngang bằng với các quyền hạn khác của Quốc hội. "Bỏ phiếu tín nhiệm" là việc quy định các nhiệm vụ và quyền hạn "độc lập" với các nhiệm vụ và quyền hạn khác của Quốc hội, và hoàn toàn phù hợp với những gì hiện tại (và đang được theo đuổi mạnh mẽ trên toàn quốc). Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương khóa XI - Một số nhiệm vụ cấp bách đối với công tác xây dựng Đảng hiện nay). Nhiệm vụ này sẽ góp phần thúc đẩy những người giữ vị trí quan trọng trong bộ máy nhà nước thực hiện nhiệm vụ kịp thời, tích cực và có tính “răn đe” hơn, qua đó cũng đáp ứng tốt hơn kỳ vọng của cử tri.
Điều 14 quy định về thẩm quyền của Chủ tịch nước (Điều 93, Khoản 6) quyết định nhân danh Nhà nước đàm phán, ký điều ước quốc tế; trình Quốc hội phê chuẩn điều ước hoặc quyết định phê chuẩn, gia nhập gia hạn hoặc chấm dứt điều ước quốc tế theo thẩm quyền do Quốc hội quy định (Điều 7, Khoản 14, Khoản 14). Sửa đổi, bổ sung nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước không thuộc phạm vi của chuyên đề này nhưng có liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội. Trong đó, Điều 93 khoản 6 cơ bản đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Trước đây, Quốc hội "... phê chuẩn hoặc bãi bỏ điều ước quốc tế do Chủ tịch nước trực tiếp ký; phê chuẩn hoặc bãi bỏ điều ước quốc tế khác do Chủ tịch nước ký kết hoặc gia nhập theo đề nghị của Chủ tịch nước." Nay, trên cơ sở các Điều 6, 93, 14, 75 mới được xác định lại là: Quốc hội “... phê chuẩn, quyết định gia nhập hoặc chấm dứt hiệu lực điều ước quốc tế về chiến tranh, hòa bình, chủ quyền quốc gia. , việc nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam gia nhập các tổ chức quốc tế và khu vực quan trọng, điều ước quốc tế về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, điều ước quốc tế khác trái luật, nghị quyết của Quốc hội.
Quy định mới này là hoàn toàn cần thiết vì hai lý do cơ bản:
Nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban thường vụ Quốc hội (Điều 74)
Ủy ban thường vụ Quốc hội có 13 nhiệm vụ, quyền hạn, với những nội dung mới sau đây:
Thứ nhất, Ủy ban Thường vụ Quốc hội không còn nhiệm vụ “tuyên bố và chủ trì việc bầu cử đại biểu Quốc hội” do nhiệm vụ này đã được giao cho Hội đồng bầu cử quốc gia (cơ quan mới độc lập).
So với Điều 91 của Hiến pháp năm 1992, Điều 5 có hai điều mới. Đoạn thứ nhất thuộc về giám sát, được xác định là nhiệm vụ, quyền hạn thứ ba (Điều 3): “Giám sát việc thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, nghị định, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội .” Quốc hội phục vụ; Giám sát của Chính phủ, Tối cao Hoạt động của Tòa án Nhân dân, Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao, Văn phòng Kiểm toán Quốc gia và các cơ quan khác do Quốc hội thành lập. Điều 74 Hiến pháp 2013 đã bổ sung khoản 4 khoản 2 quy định văn bản vi phạm Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội thì có quyền đình chỉ việc thi hành và trình Quốc hội bãi bỏ hiệu lực. Văn bản của chính phủ, thủ tướng chính phủ, tòa án nhân dân tối cao, viện kiểm sát nhân dân tối cao. Và bãi bỏ trực tiếp các văn bản của chính phủ, thủ tướng, tòa án nhân dân tối cao, viện kiểm sát. Tòa án nhân dân tối cao đã vi phạm nghị định, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Hai việc trên có nội hàm khác nhau (giám sát và xử lý hậu kỳ), quy trình vận hành của hai công việc cũng khác nhau nên cần phân biệt rõ ràng và chuẩn hóa.
Tuy nhiên, có sự phân quyền: Quốc hội xử lý các tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương, trong khi Ủy ban Thường vụ Quốc hội xử lý các quận, huyện, thị xã, thủ đô và báo cáo trước Quốc hội. Việc sửa đổi này là cần thiết và chặt chẽ.
Một nhiệm vụ và quyền hạn có thể nói là “vừa mới, vừa cũ”, đó là Điều 12, nhiệm vụ và quyền hạn của Ủy ban Thường vụ Quốc hội là “thông qua đề nghị bổ nhiệm, miễn nhiệm ĐBQH”. đặc sứ" về nước. Quyền của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Hiến pháp 2013 quy định nhiệm vụ này kế thừa quy định của Hiến pháp 1959 và Hiến pháp 1980. Vì chức đại sứ là đại sứ đặc mệnh toàn quyền và là đại diện đặc mệnh toàn quyền của nước ta (công dân) Vì vậy, Ủy ban Thường vụ Quốc hội phải tán thành việc Chủ tịch nước bổ nhiệm, bổ nhiệm, miễn nhiệm đại sứ là hợp lý, đúng đắn và phù hợp với thông lệ quốc tế.
Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội (các điều 75, 76, 77 và 78)
Có nhiều điều giờ đã trở thành “tất yếu” như quy định: hội đồng quốc gia, ủy ban có nhiều thành viên chuyên trách, hay chủ tịch hội đồng quốc gia được dự họp. Quốc hội... là không thể thiếu nên không cần ghi vào hiến pháp, nó đã bị bãi bỏ.
Xét từ tính chất hoạt động của Đại hội và yêu cầu của công tác cán bộ, Hiến pháp năm 2013 đã quy định thiết chế của Đại hội đã được điều chỉnh theo phân cấp quản lý cán bộ. Quốc hội chỉ bầu Chủ tịch Hội đồng dân tộc, Chủ nhiệm Ủy ban; Phó Chủ tịch Hội đồng dân tộc, Phó Chủ nhiệm các ban, các ban và Ủy viên Ủy ban do Ủy ban thường vụ Quốc hội phê chuẩn. Chúng tôi cho rằng việc phân quyền như vậy là hợp lý, tương tự như công tác quản lý cán bộ của Đảng (bộ trưởng… do Bộ Chính trị quản lý, thứ trưởng… do Ban Bí thư quản lý), nhưng cũng cần xem xét thực tế quy trình. thực hiện công việc này, ai là người giới thiệu các Phó Chủ nhiệm và Ủy viên Ủy ban Dân tộc và các Phó Chủ tịch Ủy ban và Ủy viên Ủy ban (do các Ủy ban Thường vụ Quốc hội giới thiệu trước đây). Trong tương lai, khi Luật Tổ chức Quốc hội (mới) được xây dựng, cần phải cụ thể hóa quy trình thực hiện quy định này.
Là kết quả của các hoạt động giám sát của Quốc hội (theo Đạo luật Giám sát của Quốc hội năm 2003), Hiến pháp 2013 đã chính thức hóa một cơ quan mới, Ủy ban lâm thời. Hội nghị. Từ Đại hội XI đến nay, Quốc hội đã thành lập đoàn giám sát (thực chất là ủy ban lâm thời) để xử lý nhiều vấn đề. Hầu hết các trường hợp này là những trường hợp oan, sai hoặc các vấn đề kinh tế nghiêm trọng. Vì vậy, Hiến pháp 2013 quy định về ủy ban lâm thời, cụ thể là Điều 78 như sau: “Quốc hội khi cần thiết thành lập ủy ban lâm thời để nghiên cứu, thẩm tra, điều tra một vấn đề”.
Đại biểu Quốc hội (điều 79, 80, 81 và 82)
Nhìn chung, nội dung quyền đại diện của quốc hội không có nhiều thay đổi, trừ một sửa đổi khoản 1 của Điều 82, theo đó quy định mới được sửa đổi. “Đại biểu Quốc hội có trách nhiệm thực hiện đầy đủ nhiệm vụ đại biểu” được thay cho quy định cũ: “Đại biểu Quốc hội phải dành thời gian để làm nhiệm vụ đại biểu”. Quy định mới nhằm đề cao hơn nữa trách nhiệm của đại biểu và khẳng định rằng, dù là đại biểu chuyên trách hay đại biểu kiêm nhiệm thì dứt khoát cũng phải làm tròn nhiệm vụ của mình. Cũng tại khoản 1 Điều 82 có một quy định mới, đại biểu Quốc hội “có quyền tham gia làm thành viên của Hội đồng dân tộc hoặc Ủy ban của Quốc hội”. Trước đây, khi chưa có quy định này, đã xảy ra tình trạng: người được cơ cấu làm thành viên thì không muốn được cơ cấu, người không được cơ cấu thì lại muốn. Vì vậy việc ổn định tổ chức để đi vào hoạt động có phần phức tạp và tiêu tốn nhiều thời gian. Nay quy định “mở” như trên vừa phù hợp với nguyện vọng của đại biểu, vừa nhanh chóng ổn định tổ chức các cơ quan của Quốc hội.
Nội dung bài viết:
Bình luận