1. Kỷ luật là gì?
Kỷ luật là những quy tắc xử sự chung do cơ quan, tổ chức quy định và các cá nhân trong cơ quan, tổ chức đó phải tuân thủ nhằm tạo sự thống nhất để kết quả công việc, học tập, v.v. Đạt được. Chất lượng cao, hiệu quả cao.
Kỷ luật cũng có thể do cá nhân tự áp đặt. Kỷ luật giúp rèn luyện con người tập trung vào mục tiêu đã đề ra. Và cơ hội thành công thường rộng mở hơn với những người có kỷ luật.
Kỷ luật luôn đồng hành với mỗi người, dù sống ở đâu, trong gia đình, ngoài xã hội, ở trường học, nơi làm việc...
Kỷ luật có thể hoặc có thể không hợp pháp
- Đối với tổ chức tư nhân: kỷ luật là quy định đối với các thành viên của tổ chức, xã hội/doanh nghiệp; các thành viên của nó phải thực hiện. Nếu vi phạm các quy định này, bạn sẽ bị xử phạt theo các hình thức được quy định trong quy định. Kỷ luật ở đây là không hợp pháp.
- Đối với cơ quan nhà nước: Kỷ luật là khuôn mẫu mà người thừa hành, công chức phải tuân theo. Nếu họ vi phạm các quy tắc, họ sẽ bị trừng phạt. Lúc này, việc xử lý kỷ luật là đúng pháp luật.
2. Kỷ luật là gì?
Kỷ luật là biểu hiện của cá nhân sau quá trình nỗ lực, tuân theo nguyên tắc, khuôn khổ hoạt động của cơ quan, tổ chức.
Tính kỷ luật của cá nhân thể hiện ở khả năng tự kiểm soát hành vi và nhận thức của bản thân trong khuôn khổ, không chịu sự tác động từ bên ngoài.
3. Kỷ luật trong quân đội là gì?
Kỷ luật trong Quân đội nhân dân Việt Nam thực chất là chấp hành đường lối, chính sách, điều lệ Đảng; Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước phù hợp với đặc điểm, tình hình, chức năng, nhiệm vụ của quân đội. Vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh: Bên cạnh lý tưởng chiến đấu, kỷ luật quân đội là điểm mấu chốt để tạo sự thống nhất cao độ trong ý thức và hành động của cán bộ, chiến sĩ, nhất là trên chiến trường; Vì vậy, kỷ luật là động lực cực kỳ quan trọng tạo nên sức mạnh chiến đấu của quân đội. Đồng chí luôn yêu cầu cán bộ, chiến sĩ trong toàn quân phải tự giác, nghiêm chỉnh chấp hành kỷ luật; đối với mệnh lệnh của cấp trên phải tuyệt đối chấp hành và nghiêm chỉnh chấp hành; báo cáo từ dưới lên phải trung thực, kịp thời và thuận tiện; là cá nhân tuyệt đối phải phục tùng tổ chức; thiểu số phải phục tùng đa số; Địa phương phục tùng trung ương… Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng lưu ý, kỷ luật phải được áp dụng một cách bình đẳng, thống nhất và triệt để từ trên xuống dưới, không có sự phân biệt đối xử.
4. Đối tượng chấp hành kỷ luật quân đội
Bộ Quốc phòng vừa ban hành Thông tư 16/2020/TT-BQP quy định việc áp dụng hình thức kỷ luật, trình tự, thủ tục, thời hiệu, thời hạn, thẩm quyền xử lý kỷ luật trong Bộ Quốc phòng.
Thông tư này áp dụng đối với sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, binh nhì (chiến sĩ), công chức quốc phòng, công nhân quốc phòng, viên chức quốc phòng (công chức, viên chức, công nhân viên chức quốc phòng thuộc các Bộ) và các cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân có liên quan.
Những đối tượng sau đây nếu vi phạm pháp luật, điều lệ nhà nước, điều lệnh Quân đội cũng sẽ thi hành thông tư này để xem xét, xử lý kỷ luật:
- a) Cán bộ hợp đồng đang phục vụ trong các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ Quốc phòng;
- b) Quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện, luyện tập, kiểm tra sẵn sàng động viên, chiến đấu;
- c) Dân quân tự vệ phối hợp với quân đội trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu, tập trung huấn luyện hoặc làm nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật.
- d) Công dân thực hiện nghĩa vụ quân sự.
Nguyên tắc xử lý kỷ luật như sau: Mọi vi phạm kỷ luật phải được phát hiện, ngăn chặn kịp thời và phải bị xử lý nghiêm minh; hậu quả do vi phạm kỷ luật gây ra phải được khắc phục theo đúng quy định của pháp luật đồng thời, việc xử lý vi phạm kỷ luật được tiến hành nhanh chóng, chính xác, công khai, khách quan, đúng thẩm quyền, bảo đảm công bằng, đúng quy định của pháp luật.
5. Hình thức kỷ luật quân đội
Hình thức kỷ luật đối với sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp thực hiện theo quy định của Luật sĩ quan Quân đội Nhân dân Việt Nam và Khoản 1, Điều 50 Luật quân nhân chuyên nghiệp, công nhân và viên chức quốc phòng được xếp từ thấp đến cao như sau:
a- Khiển trách;
b- Cảnh cáo;
c- Hạ bậc lương;
d- Giáng cấp bậc quân hàm;
đ- Giáng chức;
e- Cách chức;
g- Tước quân hàm sĩ quan;
h- Tước danh hiệu quân nhân.
Ngoài ra, Thông tư cũng quy định về hình thức kỷ luật đối với hạ sĩ quan, binh sĩ thực hiện theo quy định Khoản 1, Điều 60 Luật Nghĩa vụ quân sự và hình thức kỷ luật đối với công chức, công nhân và viên chức quốc phòng thực hiện theo quy định Khoản 2, Điều 50 Luật quân nhân chuyên nghiệp, công nhân và viên chức quốc phòng…
chấp hành pháp luật kỷ luật trong quân đội
6. Tư tưởng Hồ Chí Minh về kỷ luật quân đội
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi kỷ luật là một vấn đề có ý nghĩa hết sức quan trọng trong xây dưng quân đội cách mạng. Ông nói: “Quân đội mạnh là do giáo dục tốt, chính sách công bằng và kỷ luật nghiêm minh. Vì vậy, việc nghiên cứu, học tập, quán triệt tư tưởng này của Chủ tịch Hồ Chí Minh có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. . đồng thời, vẫn có tác dụng định hướng, chỉ đạo hình thành và nâng cao trình độ mọi mặt của quân đội trong giai đoạn hiện nay.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về kỷ luật của quân đội cách mạng được thể hiện thực chất trên những nội dung sau:
Thứ nhất, kỷ luật là sức mạnh của quân đội, buông lỏng kỷ luật là làm suy yếu quân đội.
Kỷ luật là hệ thống các nguyên tắc, quy định, được thể hiện trong điều lệnh, điều lệ của quân đội, hoạt động trong khuôn khổ nhà nước và bảo đảm cho các hoạt động của quân đội tiến hành có hiệu lực, hiệu quả. Kỷ luật là một thuộc tính không thể thiếu của quân đội, nhưng kỷ luật của quân đội không hoàn toàn giống nhau. Quân đội ta là quân đội của dân, do dân, vì dân nên hoàn toàn khác về bản chất với quân đội các nước tư bản chủ nghĩa.
Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh “Quân đội mạnh là nhờ giáo dục tốt, chính sách công bằng và kỷ luật nghiêm minh”. Kỷ luật trong quân đội thể hiện ở lương tâm, hành động của mọi quân nhân trong thực hiện mọi nhiệm vụ, mọi lúc, mọi nơi, trong mọi hoàn cảnh. Vì vậy, vấn đề chấp hành kỷ luật trong quân đội là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu, bởi đó là lực lượng, là nền tảng làm nên mọi thắng lợi trong việc hoàn thành sứ mệnh lịch sử của quân đội. Kỷ luật một khi được giáo dục, thấm nhuần vào lương tâm, tình cảm của mỗi quân nhân, sẽ định hướng hành động và trở thành lực lượng vật chất nhân lên gấp bội sức mạnh chiến đấu của quân đội. . Kỷ luật quân đội là “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt quá trình hình thành và phát triển nhân cách người quân nhân cách mạng. Nếu buông lỏng kỷ luật, bộ đội sẽ không chấp hành nghiêm mệnh lệnh chiến đấu, làm giảm sức mạnh chiến đấu của quân đội. Một tập hợp ngỗ ngược theo ông chẳng qua chỉ là một đội quân hỗn loạn, vô tổ chức, vô kỷ luật và không thể có quyền lực, cho dù họ được trang bị vũ khí tối tân nhất. Kỷ luật lỏng lẻo và lỏng lẻo có nghĩa là sự suy yếu của quân đội. Thứ hai, kỷ luật của quân đội ta có tính kỷ luật tự giác, nghiêm minh và phải được duy trì nghiêm túc.
Sinh thời, Người thường nhấn mạnh: Quân đội ta là quân đội của dân, do dân, vì dân. Vì vậy, kỷ luật phải tự giác, nghiêm minh... Đây là bản chất hoàn toàn khác với kỷ luật quân phiệt của quân đội tư sản, đế quốc. Quân đội ta dưới sự lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối của Đảng Cộng sản Việt Nam về mọi mặt, luôn mang trong mình bản chất cách mạng của giai cấp công nhân, có tính nhân dân, tính dân tộc sâu sắc. Bản chất kỷ luật của quân đội ta mang tính kỷ luật của Đảng, đó là kỷ luật “tự giác, nghiêm minh”. Đoàn kết tốt, kỷ luật tự giác, nghiêm minh đã trở thành bản chất, truyền thống tốt đẹp, phẩm chất cao quý của Bộ đội Cụ Hồ, nhân tố quan trọng hàng đầu trong xây dựng chính quy, tạo nên sức mạnh chiến đấu tổng hợp của quân đội ta. Nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của tính kỷ luật đối với lực lượng chiến đấu của quân đội, trong quá trình rèn luyện, giáo dục, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên quan tâm đến việc giáo dục kỹ năng tổ chức và rèn luyện kỷ luật cho cán bộ, chiến sĩ, trong đó chú trọng tăng cường kỷ luật trong quân đội. quân đội. . Ông nhấn mạnh: “Kỷ luật phải nghiêm minh. Trong kỷ luật phải chú ý hai điểm: Thưởng - Phạt”2. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, quân đội không thể có kỷ luật tự giác, nghiêm minh nếu không được giáo dục, rèn luyện. Và trong quá trình giữ gìn kỷ luật, không giải quyết tốt việc thưởng phạt sẽ dễ dẫn đến tiêu cực trong cán bộ, chiến sĩ. Khen thưởng, xử phạt là yêu cầu cơ bản trong việc thi hành kỷ luật nhằm bảo đảm tính nghiêm minh và hiệu quả thiết thực của kỷ luật. Sự công bằng, nghiêm minh trong khen thưởng, kỷ luật luôn là động lực tích cực để mọi quân nhân phấn đấu, rèn luyện, vượt qua mọi khó khăn, thử thách, gian khổ, ác liệt để hoàn thành nhiệm vụ. Thưởng phạt không công bằng, không thỏa đáng có tác dụng ngược lại, làm suy yếu, làm nguội lạnh tinh thần phấn đấu của chiến sĩ, không đúng với bản chất của kỷ luật trong quân đội cách mạng, quân đội của tinh nhuệ. Nếu không giữ vững kỷ luật, thưởng phạt không công minh thì kỷ luật này chỉ là hình thức và rất có thể sẽ làm suy yếu ý chí, sức mạnh chiến đấu của quân đội. Vì vậy, "Thưởng - Phạt" cần được các cấp trong quân đội và mọi cán bộ, chiến sĩ quán triệt và thực hiện nghiêm túc. Các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy là những tấm gương để mọi chiến sĩ học tập, noi theo. Cán bộ, chỉ huy càng cao trách nhiệm càng nặng nề, càng phải chấp hành nghiêm kỷ luật quân đội, thực sự gương mẫu chấp hành kỷ luật; Đồng thời, cần tiến hành phân tích “Thưởng - Phạt”. Không xem nhẹ, buông lỏng, luôn chấp hành kỷ luật quân đội, nhiệm vụ, chức trách Đảng, Nhà nước giao. Thứ ba, công tác xây dựng quân đội cần thường xuyên quan tâm giáo dục kỷ luật, đồng thời tăng cường kiểm tra việc chấp hành kỷ luật, tạo ý thức tự giác chấp hành kỷ luật cho mỗi cán bộ, chiến sĩ.
Xuất phát từ thực tiễn cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, chỉ có tinh thần tự giác cao, cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta mới có thể chịu đựng được gian khổ. , sự khốc liệt của chiến tranh, có thể nâng cao hiệu quả sử dụng vũ khí trong quá trình chiến đấu, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ. Vì vậy, tăng cường kỷ luật là điều kiện cơ bản để nâng cao sức mạnh chiến đấu của quân đội.
Bác thường căn dặn bộ đội ta giữ nghiêm kỷ luật, nhất là khi cách mạng bước sang giai đoạn mới, nhiệm vụ mới. Sự phát triển của nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng mới đòi hỏi không chỉ tăng cường kỷ luật mà còn có những nội dung, yêu cầu mới về kỷ luật đối với bộ đội, đó là một tất yếu khách quan. Việc chậm trễ hoặc không nhanh chóng tăng cường kỷ luật trong tình hình mới có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng, ảnh hưởng xấu đến bản chất, truyền thống tốt đẹp của quân đội cách mạng.
Trong quá trình rèn luyện kỷ luật quân đội, ông hết sức chú trọng vấn đề chấp hành mệnh lệnh. Chấp hành tuyệt đối mệnh lệnh là yêu cầu có tính chất đặc thù đối với tổ chức quân đội, qua đó tập trung tính kỷ luật “sắt” và tính nghiêm túc của quân đội. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở cán bộ, chiến sĩ quân đội ta: “Mệnh lệnh của cấp trên phải tuyệt đối chấp hành và cẩn thận thi hành”3. Tuyệt đối chấp hành mệnh lệnh của cấp trên đã trở thành lời thề danh dự và vẫn được thể hiện trong mọi hành động của cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam xây dựng và trưởng thành, trong thời chiến cũng như thời bình. Bốn là, tăng cường kỷ luật rèn luyện con người mới trong quân đội và phát triển phẩm chất của người quân nhân cách mạng.
Hình ảnh cao quý “Bộ đội Cụ Hồ” in đậm trong lòng nhân dân không chỉ được tạo nên từ những chiến công hiển hách của quân đội ta trong đấu tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quốc, mà còn có sự đóng góp của một bộ phận nhân dân. Đó là tinh thần tự giác, kỷ luật nghiêm minh của các thế hệ cán bộ, chiến sĩ quân đội ta trong quá trình xây dựng và trưởng thành là rất quan trọng. Dũng cảm trong chống xâm lược, song nếu có biểu hiện lập công, không chịu tu dưỡng, rèn luyện, vi phạm kỷ luật quân đội, kỷ luật trong ứng xử với nhân dân trong thời bình thì quân đội cũng không thể chiến thắng được sự khâm phục, yêu mến và tin tưởng của nhân dân. Việc Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm rèn luyện kỷ luật còn hướng tới việc rèn luyện con người trong quân đội, rèn luyện những phẩm chất tốt đẹp của người quân nhân cách mạng. Đó là sự thể hiện sâu sắc giá trị nhân văn trong tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm tăng cường kỷ luật quân đội, giáo dục ý thức tổ chức kỷ luật của bộ đội. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, quân đội ta là quân đội cách mạng, từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, liên hệ chặt chẽ với nhân dân. Theo Người, quân đội cách mạng phải khác căn bản với quân đội chuyên nghiệp và hiếu chiến của giai cấp thống trị. Vì vậy, phải không ngừng bồi đắp bản chất cách mạng của giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc trong mọi ý chí và hành động của quân đội ta. Sự thống nhất của các yếu tố này là một giá trị nhân văn đáng tự hào của Quân đội.
Cho đến nay, tư tưởng giáo dục của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn xuyên suốt quá trình xây dựng, phát triển và trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam. Bác dạy “dân như nước, mình như cá, sức mạnh bao nhiêu là ở dân” 4. Vì vậy, sức mạnh của Đảng và Nhà nước của quân đội đều từ nhân dân mà ra, quân đội phải yêu thương và kính trọng nhân dân là cha, là mẹ, là anh em của mình, phải đoàn kết chặt chẽ với nhân dân, giúp đỡ nhân dân trong mọi hoàn cảnh.
Mặt khác, giáo dục cán bộ, chiến sĩ quân đội phải chú trọng giáo dục tình thương yêu, chia sẻ như ruột thịt: “Chiến sĩ chưa ăn cơm cán bộ không được gọi là đói. Các giám đốc điều hành không nên gọi mình là lạnh lùng; các chính trị gia nên giống như chị em ngọt ngào; bộ đội và cấp dưới phải kính cấp trên, tôn trọng và bảo vệ cán bộ, chấp hành nghiêm chỉnh mọi mệnh lệnh” 5. Nhân đạo đoàn kết dân tộc đối với sĩ quan và binh lính địch khi chết, bị thương, bị tù đày, có thái độ đúng đắn đối với giặc và công nhân tăng bạn bớt thù trong chiến tranh cũng được, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng quá trình giáo dục, rèn luyện cán bộ, chiến sĩ.
Năm là, kết hợp tăng cường kỷ luật với phát huy dân chủ, phê phán những biểu hiện vi phạm kỷ luật, thói hư, tật xấu, xây dựng nếp sống văn hóa trong môi trường quân đội. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, tăng cường kỷ luật chính là mở rộng dân chủ, phát huy tinh thần dân chủ của cán bộ, chiến sĩ. Mở rộng dân chủ, phát huy dân chủ không đồng nghĩa với lộng quyền, vô tổ chức mà tốt hơn hết là tăng cường kỷ cương, tăng cường kỷ luật. Nhà phân tích: “Không nên hiểu lầm dân chủ. Trong trường hợp chưa quyết định, đừng ngần ngại thảo luận. Nhưng một khi đã quyết định thì không bàn được, chỉ bàn làm sao cho nhanh thực hiện, chứ không có ý kiến không làm. Sự tự do thái quá này phải bị cấm đoán. » 6. Mối quan hệ giữa kỷ luật và dân chủ, giữa tăng cường kỷ luật và phát huy dân chủ đã được Hồ Chí Minh luận giải và phân tích sâu sắc, là cơ sở của quá trình tăng cường rèn luyện kỷ luật và phát huy dân chủ trong quân đội ta ở mọi thời kỳ lịch sử. Vừa nêu cao ý thức tổ chức rèn luyện kỷ luật cho quân đội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phê phán những thói hư tật xấu, những biểu hiện vi phạm kỷ luật dễ nảy sinh ở cán bộ, chiến sĩ có tinh thần không cao.
Nội dung bài viết:
Bình luận