Chấp hành hình phạt là gì

1. Hình phạt là gì? 

Thi hành án là việc  sau khi Tòa án tuyên án, người bị kết án  phải chấp hành  hình phạt đã tuyên đối với mình theo bản án hoặc quyết định  có hiệu lực pháp luật. 

 Thi Hành Hình phạt Tên tiếng Anh là: "penaltyExecution". 

 2. Các quy định có liên quan đến chấp hành hình phạt: 

 Các quy định liên quan đến chấp hành hình phạt được quy định trong Bộ luật hình sự 2015, những quy định này được đưa ra nhằm thể hiện tinh thần nhân đạo của Nhà nước đối với những người bị kết án, khuyến khích tạo động lực cho các đối tượng này cải tạo tốt trong suốt quá trình chấp hành hình phạt, đồng thời thể hiện sự khoan hồng của Nhà nước. Cụ thể, các quy định này bao gồm: 

 

 – Thời hiệu thi hành bản án ( Điều 60 Bộ luật Hình sự ) 

 

 – Miễn chấp hành hình phạt ( Điều 62 Bộ luật Hình sự ) 

 

 – Giảm thời hạn chấp hành hình phạt ( Điều 63, Điều 64 Bộ luật Hình sự) 

 

 – Án treo ( Điều 65 Bộ luật Hình sự) 

 

 – Tha tù trước thời hạn có điều kiện ( Điều 66 Bộ luật Hình sự) 

 

 – Hoãn, tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù ( Điều 67, Điều 68 Bộ luật Hình sự) 

 

 

 – Xóa án tích ( Các Điều 69, 70, 71, 72, 73 và 89 Bộ luật Hình sự) 

 

 2.1. Thời hiệu thi hành bản án: 

 Theo Điều 60 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017 thì: 

 

 Thời hiệu thi hành bản án hình sự là thời hạn do Bộ luật Hình sự quy định mà khi hết thời hạn đó người bị kết án, pháp nhân thương mại bị kết án không phải chấp hành bản án đã tuyên. 

  Thời hiệu thi hành bản án được quy định tại Điều 60 Bộ luật Hình sự là thời hiệu thi hành bản án hình sự về quyết định hình phạt. Đối với các quyết định về bồi thường thiệt hại, án phí và các quyết định khác về tài sản thì việc xác định thời hiệu thi hành bản án được thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự. 

  Về nguyên tắc, bản án hình sự phải được thi hành ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật nhằm mục đích trừng trị, giáo dục các đối tượng bị kết án, ngăn ngừa phạm tội mới. Trên thực tế, một số bản án đã có hiệu lực pháp luật  không được thi hành vì một số lý do như: bị mất, bị quên, v.v. 

 

 Thời hiệu thi hành bản án hình sự giới hạn thời gian  thi hành bản án, là thời hạn  buộc người bị kết án  chấp hành bản án đã có hiệu lực pháp luật. Thời hạn này dài hay ngắn tuỳ thuộc vào người bị kết án và loại, mức hình phạt đã áp dụng. Thời hiệu thi hành bản án hình sự  tính từ ngày bản án có hiệu lực. 

 * Đối với người bị kết án, thời hiệu thi hành bản án hình sự là: 

 

 - 05 năm đối với  trường hợp  phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc  phạt tù từ 03 năm trở xuống; 

 

 – 10 năm đối với  trường hợp bị phạt tù  trên 3 năm đến 15 năm; 

 

 – 15 năm đối với  trường hợp bị phạt tù  trên 15 năm đến 30 năm; 

 

 – 20 năm đối với  trường hợp bị phạt tù chung thân hoặc tử hình. 

  Sau thời hạn này, người bị kết án  không bị buộc  chấp hành  án nếu trong thời hạn luật định, người đó không phạm tội mới, không cố ý trốn tránh việc thi hành án, không bị truy nã. nếu không đủ điều kiện này thì thời hiệu thi hành  án được tính lại kể từ ngày người này thực hiện hành vi phạm tội mới (Điều 4, Điều 60 Bộ luật hình sự) hoặc kể từ ngày người này không có mặt hoặc bị bắt. khoản 5 Điều 60 BLHS). 

 * Đối với pháp nhân thương mại bị kết án, trong mọi trường hợp, thời hiệu  thi hành bản án hình sự  là 05 năm. Trong thời hạn trên, nếu pháp nhân thương mại  phạm tội mới thì thời hiệu được tính lại kể từ ngày  phạm tội mới. 

  2.2. Miễn  hình phạt: 

 Việc miễn chấp hành hình phạt  không buộc người bị kết án phải chấp hành toàn bộ hoặc phần còn lại của hình phạt đã tuyên. Người được miễn chấp hành hình phạt luôn phải thực hiện đầy đủ  nghĩa vụ dân sự mà tòa án đã tuyên trong bản án.  Chế định miễn  hình phạt thể hiện chính sách nhân đạo đối với người bị kết án có hoàn cảnh đặc biệt, khuyến khích người bị kết án cố gắng  chuộc tội để được hưởng sự khoan hồng của Nhà nước. 

 Quy định về miễn chấp hành án Điều 62 BLHS quy định về điều kiện “được miễn” hoặc “có khả năng” được miễn chấp  hành án. miễn chấp hành toàn bộ hình phạt hoặc  miễn chấp hành phần còn lại của hình phạt đã tuyên. 

 

  * Miễn chấp hành án trong trường hợp được đại xá hoặc đại xá (khoản 1 Điều 62 Bộ luật hình sự). Đại xá là biện pháp khoan hồng của Nhà nước, nội dung là miễn chấp hành toàn bộ hoặc phần còn lại của hình phạt tù đối với một phạm nhân cụ thể hoặc đối với những phạm nhân đã thỏa mãn những điều kiện nhất định. Lệnh đại xá được đặt dưới thẩm quyền của Chủ tịch nước và sắc lệnh này thường được ban hành vào dịp các ngày lễ lớn hàng năm. Đại xá là biện pháp khoan hồng của Nhà nước có nội dung tha tội, thường là hoàn toàn và triệt để cho hàng loạt những người phạm những tội nhất định nào đó.  

 * Miễn chấp hành toàn bộ hình phạt đối với người bị phạt cải tạo không giam giữ và người bị phạt tù có thời hạn (Khoản 2, 3 Điều 62 Bộ luật hình sự). Theo quy định tại Khoản 2 Điều 62 Bộ luật hình sự, trường hợp người bị kết án cải tạo không giam giữ hoặc tù có thời hạn đến 03 năm chưa chấp hành hình phạt thì theo đề nghị của viện trưởng viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định miễn chấp hành hình phạt, nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây: 

 

 – Sau khi bị kết án đã lập công 

 

 – Mắc bệnh hiểm nghèo 

 

 – Chấp hành tốt pháp luật, có hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn và xét thấy người đó không còn nguy hiểm cho xã hội.  

 * Miễn chấp hành phần hình phạt còn lại trong trường hợp đã được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt (Khoản 4 Điều 62 Bộ luật Hình sự) Tòa án có thể quyết định miễn chấp hành phần hình phạt còn lại trong trường hợp thỏa mãn các điều kiện sau: 

 

 – Người bị kết án phạt tù đến 03 năm; 

 

 – Được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù; 

 

 

 – Trong thời gian được tạm đình chỉ đã lập công hoặc chấp hành tốt pháp luật, hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn và xét thấy người đó không còn nguy hiểm cho xã hội. Đây là trường hợp người phải chấp hành án có nhiều nỗ lực, cố gắng và đạt nhiều thành tích trong học tập, công tác chiến đấu được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định khen thưởng hoặc xác nhận. Điều kiện này thể hiện tính tự giác, quyết tâm chấp hành án của  bị cáo nên cần được coi là một trong những căn cứ để miễn chấp hành án cho bị cáo. 

 * Miễn chấp hành phần hình phạt  còn lại (khoản 5 điều 62 BLHS) 

 

 Người bị kết án phạt tiền còn có thể được Toà án miễn chấp hành phần tiền phạt còn lại khi thuộc một trong hai trường hợp: 

 

 - Đã tích cực chấp hành được một phần thời hạn của bản án và không thể tiếp tục chấp hành được phần thời hạn còn lại của bản án do  hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn, ốm đau; 

 

 - Đã tích cực chấp hành  một phần bản án và đã lập công lớn.  

 * Miễn chấp hành hình phạt bổ sung cấm cư trú, quản chế (khoản 6 Điều 62 Bộ luật hình sự) trong các trường hợp sau: 

 

 – Đã chấp hành nửa bản án 

 

 - Đã cải tạo tốt 

 

 - Có yêu cầu của cơ quan thi hành án hình sự cấp huyện nơi người đó đang chấp hành án. 

 2.3. Giảm thời hạn chấp hành án: 

 Giảm thời gian chấp hành án là rút ngắn một phần thời gian chấp hành án được tính bằng thời gian. Quy định này được quy định tại Điều 63, 64 BLHS. * Điều kiện  xét giảm: 

 

 Người  chấp hành án sơ thẩm phải có đủ 4 điều kiện sau đây thì mới được xét giảm: 

 

 

  Điều kiện về thời hạn có hiệu lực thi hành án: Người bị kết án đã chấp hành án được một thời hạn nhất định. Thời gian  chấp hành án được tính để  giảm lần thứ nhất là: 

 

 1/3 thời hạn  cải tạo không giam giữ và phạt tù có thời hạn; 

 

 12 năm cho đến tù chung thân. Trong trường hợp một người bị kết án về nhiều tội, trong đó có một tội bị kết án  tù  chung thân thì Tòa án chỉ xét giảm lần thứ nhất sau khi  chấp hành xong 15 năm tù; 

 

 1/2 mức chung của hình phạt  đối với người đã được giảm một phần mức án mà cố ý phạm tội mới ít nghiêm trọng. 

 2/3 mức của hình phạt chung đối với người đã được giảm hoặc một phần hình phạt mà lại  phạm tội mới nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, trong trường hợp hình phạt chung là tù chung thân thì Tòa án chỉ xét xử lần đầu. giảm  sau khi người đó đã chấp hành xong 15 năm tù.  

 25 năm đối với người bị kết án tử hình được ân giảm hoặc người bị kết án tử hình thuộc trường hợp quy định tại điểm b và điểm c khoản 3 Điều 40 Bộ luật hình sự.  

 *Mức giảm 

 

 Bộ luật Hình sự không quy định mức giảm cụ thể trong mỗi lần xét giảm mà chỉ quy định chung một người có thể được giảm nhiều lần và phải đảm bảo chấp hành được l/2 mức hình phạt đã tuyên, nghĩa là mức hình phạt được giảm của các lần cộng lại không được vượt quá 1/2 mức hình phạt đã tuyên. Theo văn bản hướng dẫn áp dụng quy định này, đối với người bị kết án phạt tù từ 30 năm trở xuống thì mỗi lần có thể được giảm từ 3 tháng đến 3 năm. Những trường hợp giảm đến 3 năm phải là những người bị kết án có thành tích đặc biệt.  

chấp hành hình phạt là gì

chấp hành hình phạt là gì

 

 Người bị kết án tù chung thân lần đầu được giảm xuống 30 năm tù và dù được giảm nhiều lần cũng phải đảm bảo thời hạn thực tế chấp hành hình phạt là 20 năm ( Khoản 2 Điều 63 Bộ luật Hình sự) 

 

 Đối với người bị kết án tử hình được ân giảm hoặc người bị kết án tử hình thuộc trường hợp quy định tại Điểm b hoặc Điểm c Khoản 3 Điều 40 của Bộ luật này thì thời gian đã chấp hành hình phạt để được xét giảm lần đầu là 25 năm và dù được giảm nhiều lần nhưng vẫn phải bảo đảm thời hạn thực tế chấp hành hình phạt là 30 năm.  2.4. ̉̉an treo: 

 Khi bị phạt tù không quá 03 năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần thiết phải buộc chấp hành án phạt tù, Toà án cho hưởng án treo và ấn định thời hạn chấp hành án treo từ 01 năm đến 05 năm và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của mình trong thời gian thử thách theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. 

  * Về  hình phạt tù: 

 

 Những người bị tòa án kết án tối đa là 3 năm tù, bất kể phạm tội gì, đều có thể được coi là hưởng án treo.  

 * Về nhân thân của người phạm tội. 

  Người được lưu trú phải là người có tư cách tốt.  

 * Có nhiều tình tiết giảm nhẹ: 

 

 - Không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự và có  2 tình tiết tăng nặng trở lên, trong đó có ít nhất 1 tình tiết quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. 

 

 - Trường hợp có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thì phải có từ 03 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trở lên, trong đó có ít nhất 02 tình tiết quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. 

 

 

 * Thời gian thử việc lưu trú: 

 

 Toà án ấn định thời gian thử thách từ 1 năm đến 5 năm đối với người được hưởng án treo.  2.5. Ra tù sớm có điều kiện: 

 Tha tù  có điều kiện được hiểu là biện pháp miễn chấp hành có điều kiện thời hạn còn lại của bản án phạt tù đã tuyên. Nhờ biện pháp này, người  chấp hành án phạt tù có cơ hội được chấp hành án tại cộng đồng với sự giúp đỡ, giám sát của gia đình, cơ quan, tổ chức xã hội.  

 Điều kiện và thời gian thử thách trong trường hợp tha tù trước thời hạn được quy định tại Điều 66 BLHS




Nội dung bài viết:

    Hãy để lại thông tin để được tư vấn

    comment-blank-solid Bình luận

    084.696.7979 19003330 Báo giá Chat Zalo