1. Biên lợi nhuận thuần là gì?
Biên lợi nhuận thuần (hay biên lợi nhuận ròng, net profit margin, net margin) cho biết một doanh nghiệp kiếm được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế trên một đồng doanh thu.
Nó là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá khả năng sinh lời của một công ty.
Công thức tính biên lợi nhuận thuần như sau

Khi tính biên lợi nhuận thuần hoặc các thước đo tỷ suất lợi nhuận khác như tỷ suất lợi nhuận gộp hoặc tỷ suất lợi nhuận hoạt động, bạn nên xem xét kết quả cả năm (năm tài chính) hơn là kết quả hàng quý vốn dễ bị thao túng trong kế toán điều chỉnh.
2. Hướng dẫn cách tính biên lợi nhuận thuần
Bạn có thể tự tính bằng cách trích xuất số liệu từ báo cáo tài chính
Kiến thức: Phần lợi nhuận sau thuế TNDN nằm dưới cùng của báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh nên còn được gọi là dòng dưới cùng. Đây là thu nhập sau khi trừ giá vốn hàng bán, chi phí bán hàng và quản lý (SGandA), chi phí tài chính, chi phí lãi vay, chi phí khác và thuế TNDN. Do đó, lợi nhuận sau thuế nhỏ hơn lợi nhuận gộp và lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh. Doanh thu thuần và lợi nhuận sau thuế năm 2020 của MWG lần lượt là 108,546 tỷ đồng và 3,919 tỷ đồng. Vậy biên lợi nhuận thuần = 3.919/108.546 = 3,61%
Hoặc bạn có thể tìm kiếm nhanh trên các trang web như vietstock.vn
Như vậy, cứ 100 đồng LNST, MWG tạo ra 3,6 đồng LNST năm 2020.
3,6 đồng à, hình như hơi nhỉ? Tiền kiếm được thì nhiều mà lãi thì ít ỏi? Nhưng tại sao giá cổ phiếu MWG vẫn cao và nằm trong nhóm 30 cổ phiếu có vốn hóa cao nhất?
3. Khi nào sử dụng biên lợi nhuận thuần?
Trước khi trả lời câu hỏi về biên lợi nhuận thuần của MWG chỉ là 3,6%, tôi sẽ giải thích lý do tại sao chúng ta sử dụng MWG, một cổ phiếu bán lẻ, làm ví dụ để tính biên lợi nhuận thuần.
Đối với biên lợi nhuận thuần, lĩnh vực bán lẻ là phù hợp nhất vì:
(1) Ngành bán lẻ chi rất nhiều tiền cho hoạt động bán hàng và quản lý kinh doanh (SGandA) để thuê cửa hàng, trả lương cho nhân viên bán hàng, chi phí tiếp thị, hệ thống quản lý ERP, v.v.
(2) Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh tài chính và khác của các doanh nghiệp bán lẻ có tỷ trọng không đáng kể nên không ảnh hưởng nhiều đến lợi nhuận sau thuế.
Do đó, thay vì sử dụng tỷ suất lợi nhuận hoạt động, bạn nên sử dụng biên lợi nhuận thuần đối với các doanh nghiệp bán lẻ như siêu thị, hàng tiêu dùng, điện máy, trang sức. Các dịch vụ khác như ăn uống, vui chơi giải trí, y tế, giáo dục, v.v. cũng có thể sử dụng biên lợi nhuận thuần như một cách nhanh nhất và hiệu quả nhất để so sánh các công ty trong cùng ngành.
Lưu ý nhanh là doanh nghiệp bán lẻ đủ điều kiện sử dụng net margin phải là doanh nghiệp bán lẻ “thuần túy” hoặc có hoạt động sản xuất cung cấp cho hệ thống bán lẻ của mình, không có hoặc có rất ít hoạt động “lấn sân” như đầu cơ chứng khoán, xây dựng bất động sản hay đa ngành nghề. ngành kinh doanh. Tổng Công ty Thương mại Hà Nội - Công ty Cổ phần Hapro (HTM) là doanh nghiệp nổi tiếng với hệ thống siêu thị bán lẻ, mảng kinh doanh sinh lợi chính của HTM. Nhưng HTM còn sở hữu mảng xuất khẩu nông sản và cho thuê bất động sản không sinh lãi. Ngoài ra, HTM còn sở hữu nhiều quỹ đất vàng và chuẩn bị xây nhà để ở. Theo tôi, đây là một trường hợp có cơ cấu lợi nhuận phức tạp và khó đánh giá chất lượng lợi nhuận thông qua biên lợi nhuận thuần.
Lý tưởng nhất là bạn nên tìm kiếm các doanh nghiệp bán lẻ không kinh doanh đa phân khúc để áp dụng biên lợi nhuận thuần. Đây cũng là triết lý đầu tư của ông Warren Buffet khi ông ưu tiên những công ty có hoạt động kinh doanh dễ hiểu và dễ hiểu.
4. Biên lợi nhuận thuần chính xác là bao nhiêu?
Trên thực tế, bạn sẽ không thể có câu trả lời chính xác vì mỗi mô hình/ngành kinh doanh sẽ có những đặc điểm biên lợi nhuận ròng khác nhau.
Như đã đề cập trong bài viết về tỷ suất lợi nhuận, hai mục đích hữu ích duy nhất khi áp dụng tỷ suất lợi nhuận là so sánh các đối thủ cạnh tranh trong cùng ngành hoặc so sánh tỷ suất lợi nhuận của cùng một công ty qua các năm để phân tích xu hướng sinh lời.
5. So sánh biên lợi nhuận hoạt động giữa các đối thủ trong cùng ngành
Trên thị trường chứng khoán Việt Nam, không có nhiều nhà bán lẻ cung cấp các sản phẩm tương tự nhau, vì vậy tôi sẽ so sánh các doanh nghiệp bán lẻ kinh doanh các ngành hàng khác nhau. So sánh chỉ mang tính tương đối, dù có thể thấy các đại gia bán lẻ lớn như PNJ, MWG, FRT có biên lợi nhuận thuần thấp hơn các ngành khác. Đây là điển hình của ngành bán lẻ.
Do ngành bán lẻ có sự cạnh tranh khốc liệt theo cơ chế thị trường, các công ty bán lẻ phải chi nhiều tiền cho các chương trình khuyến mãi, tiếp thị, dịch vụ khách hàng, thuê mặt bằng và quản lý chuỗi, mở rộng quy mô (SGandA) khiến biên lợi nhuận thuần thấp. Bù lại, tốc độ quay vòng vốn nhanh và dòng tiền mạnh nhờ sở hữu vốn của nhà cung cấp là một lợi thế rất lớn.
CTCP Vàng bạc đá quý Phú Nhuận (PNJ) có biên lợi nhuận thuần cao hơn các nhà bán lẻ khác, khoảng 6,5% nhờ có nhà máy sản xuất trang sức lâu năm và chuỗi cửa hàng PNJ cung cấp nguồn hàng. Nếu họ có thể chủ động trong việc cung cấp và định giá đầu vào, các nhà bán lẻ có thể cải thiện biên lợi nhuận thuần của họ tốt hơn.
CTCP Văn hóa Phương Nam (PNC) ghi nhận biên lợi nhuận thuần cao đáng kinh ngạc trong năm 2018 lên tới 20,9%. Nguyên nhân đến từ khoản doanh thu 144,8 tỷ đồng từ việc bán CJ CGV Việt Nam trong quý III/2018 khiến lợi nhuận sau thuế tăng đột biến. Trong những năm tiếp theo, biên lợi nhuận thuần trở lại quỹ đạo tốt của thương mại bán lẻ. Vì vậy, hãy cẩn thận khi bạn thấy biên lợi nhuận thuần cao hơn mức trung bình của ngành (!)
6. So sánh tỷ suất lợi nhuận hoạt động qua các năm để phân tích xu hướng lợi nhuận
Chu kỳ kinh doanh cũng ảnh hưởng đến ngành bán lẻ bởi khi nền kinh tế suy thoái, nhu cầu mua sắm của người dân giảm và ngược lại. Tuy nhiên, ngành thương mại bán lẻ không bị ảnh hưởng nhiều như ngành bất động sản, chứng khoán hay ngân hàng. Một số ngành bán lẻ ít chịu ảnh hưởng của chu kỳ kinh tế là: dược phẩm, hàng tiêu dùng và thực phẩm.
Vì vậy, nếu một công ty bán lẻ duy trì biên lợi nhuận thuần ổn định hoặc tăng/giảm rất ít ngay cả trong thời kỳ suy thoái kinh tế, thì đó là một mô hình bán lẻ tuyệt vời.
MWG có biên lợi nhuận ròng rất ổn định từ 2017 đến 2020, bất chấp đại dịch Covid-19 khiến nền kinh tế suy giảm, điều này đến từ:
(1) Lợi thế cạnh tranh của MWG chủ yếu dựa trên các giá trị vô hình khó sao chép: đội ngũ quản lý có chuyên môn cao, thương hiệu lớn, dịch vụ chăm sóc khách hàng và hậu mãi tốt. Nếu chỉ nhìn vào biên lợi nhuận thuần trung bình 3,6% của MWG và cho rằng MWG không có lãi? Không phải vậy, hãy nhìn vào tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) cao ngất ngưởng trên 30% của MWG trong nhiều năm để biết doanh nghiệp nào đang dẫn đầu cuộc đua trên thị trường bán lẻ tỷ suất lợi nhuận cao.
(2) MWG không ngừng mở rộng quy mô kênh, mở rộng ngành hàng giúp đa dạng hóa lợi nhuận với độ phủ rộng các kênh bán hàng trên thị trường: Kênh Thế Giới Di Động, Kênh Điện Máy Xanh, Kênh Bách Hóa Xanh, Chuỗi nhà thuốc An Khang và kênh bán hàng trực tuyến mạnh mẽ. Bạn có tin MWG bán đồng hồ, kính, xe đạp?
(3) Bách hóa xanh bán nhu yếu phẩm hàng ngày nên luôn cho thu nhập ổn định. Chuỗi Thế Giới Di Động và Điện Máy Xanh bán cả bình dân và cao cấp, dù người dân thắt chặt chi tiêu nhưng hàng bình dân vẫn bán khá tốt.
Khi ngành điện máy, điện thoại có dấu hiệu chững lại, mở rộng ngành sang bách hóa, nhu yếu phẩm, thời trang, dược phẩm và cả vận tải là cách MWG chọn để theo đuổi mục tiêu tăng trưởng lợi nhuận.
Nội dung bài viết:
Bình luận