I. Nguyên tắc xử lý kỷ luật (Điều 2):
- Trường hợp xem xét kỷ luật theo đề nghị của tổ chức đảng cấp dưới đối với tổ chức đảng, đảng viên vi phạm, tổ chức đảng có thẩm quyền phải xác minh, làm rõ vi phạm trước khi xem xét, quyết định hoặc đề nghị xem xét kỷ luật.
- Thời gian chấp hành quyết định kỷ luật của tổ chức đảng, đảng viên khi có quyết định thay đổi hình thức kỷ luật được tính cả thời gian đã chấp hành của các quyết định kỷ luật trước đó (tính đủ 12 tháng).

II. Thời hiệu kỷ luật (Điều 4):
- Đối với trường hợp chưa kỷ luật, không hoặc miễn kỷ luật: Đảng viên là nữ giới đang trong thời gian mang thai, nghỉ thai sản, đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi hoặc đảng viên là nam giới đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi thì chưa xem xét kỷ luật. Đảng viên bị bệnh nặng đang điều trị nội trú tại bệnh viện thì chưa xem xét kỷ luật, khi sức khỏe ổn định (được ra viện) mới xem xét kỷ luật. Đảng viên bị tuyên bố mất tích nếu phát hiện vi phạm vẫn phải xem xét, kết luận nhưng chưa xử lý kỷ luật, khi phát hiện đảng viên đó còn sống thì thi hành kỷ luật theo quy định.
- Thời điểm xảy ra hành vi vi phạm phải được tổ chức đảng có thẩm quyền xem xét, làm rõ, kết luận.
- Đối với vi phạm mà xác định được thời điểm chấm dứt hành vi vi phạm thì thời hiệu được tính từ thời điểm chấm dứt.
- Đối với vi phạm mà không xác định được thời điểm chấm dứt hành vi vi phạm thì thời hiệu được tính từ thời điểm phát hiện hành vi vi phạm.
- Không tính vào thời hiệu xử lý kỷ luật đối với: thời gian chưa xem xét, xử lý kỷ luật đối với các trường hợp quy định tại điểm a, b, d khoản 14 Điều 2 Quy định số 69-QĐ/TW và thời gian điều tra, truy tố, xét xử theo thủ tục tố tụng hình sự (nếu có).
III. Tình tiết tăng nặng mức kỷ luật (Điều 6):
- Tổ chức đảng, đảng viên vi phạm nhiều lần hoặc bị kỷ luật nhiều lần là vi phạm hoặc bị kỷ luật từ lần 2 trở lên, tính cả vi phạm hoặc bị kỷ luật trước đó về hành chính, đoàn thể và các hình thức xử lý của pháp luật.
- Vi phạm có tổ chức là vi phạm có sự cấu kết, bàn bạc, thống nhất giữa những tổ chức đảng hoặc đảng viên cùng vi phạm.
IV. Kỷ luật đảng viên vi phạm:
Hướng dẫn số 05-HD/UBKTTW hướng dẫn kỷ luật đảng viên vi phạm.
- Áp dụng hình thức kỷ luật:
+ Đảng viên giữ chức vụ bị kỷ luật theo quy định tại khoản 2 các điều từ Điều 25 đến Điều 56, thì xem xét kỷ luật cách chức đối với vi phạm đã bị kỷ luật trước đó, tái phạm, vi phạm trong phạm vi, lĩnh vực chuyên môn được giao, biết sai mà vẫn thực hiện hành vi vi phạm hoặc để xảy ra vi phạm tại tổ chức, cơ quan, đơn vị mình lãnh đạo, quản lý nhưng không có biện pháp ngăn chặn kịp thời, gây hậu quả nghiêm trọng, đã được tổ chức đảng cấp trên chấn chỉnh, nhắc nhở, yêu cầu khắc phục, rút kinh nghiệm nhưng vẫn để vi phạm tiếp diễn.
- Kỷ luật cách chức một, một số hoặc tất cả các chức vụ trong Đảng căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả của vi phạm để xem xét, quyết định.
V. Vi phạm quan điểm chính trị và chính trị nội bộ (Điều 25):
- Vi phạm bao gồm: không chấp hành các nguyên tắc tổ
chức của Đảng, sa sút ý chí phấn đấu, không gương mẫu trong sinh hoạt, công tác, né tránh, đùn đẩy trách nhiệm, thiếu trách nhiệm, làm việc kém hiệu quả, không hoàn thành chức trách, nhiệm vụ được giao; vi phạm những vấn đề liên quan đến tiêu chuẩn chính trị theo quy định về bảo vệ chính trị nội bộ Đảng.
VI. Vi phạm nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng (Điều 26):
- Vi phạm bao gồm: chỉ đạo, nghiên cứu, quán triệt và tổ chức thực hiện không kịp thời, không đúng, không đầy đủ chủ trương, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, Điều lệ và quy định của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội; không xây dựng chương trình, kế hoạch hành động cụ thể theo nhiệm vụ được giao, không phân công nhiệm vụ cụ thể cho đơn vị, tổ chức và cá nhân trong triển khai thực hiện hoặc xây dựng chương trình, kế hoạch mang tính hình thức dẫn đến vi phạm của tổ chức hoặc đảng viên; quan liêu, xa rời quần chúng, không sâu sát cơ sở, thiếu kiểm tra, đôn đốc, không nắm chắc tình hình địa phương, cơ quan, đơn vị mình; thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm trước những khó khăn, bức xúc và đòi hỏi chính đáng của nhân dân; ghi chép, phản ánh thông tin không trung thực các ý kiến phát biểu thảo luận của đảng viên, kết luận của người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng.
VII. Vi phạm quy định tuyên truyền, phát ngôn (Điều 28):
- Vi phạm bao gồm: tự ý liên hệ với tổ chức, cá nhân để thực hiện viết bài, cập nhật thông tin không theo chương trình, kế hoạch công tác, không đúng tôn chỉ, mục đích của ngành; có hành vi đe dọa, sách nhiễu, gây khó dễ, yêu sách về viết
báo, phát sóng, sử dụng công cụ truyền thông đảng, cơ sở, bị đề nghị từ chối đăng tin, không chấp hành quyết định từ chối đăng tin, làm ngụy tác, giả mạo thông tin trên các phương tiện truyền thông của Đảng; không chấp hành chỉ đạo, quy định về việc trình cấp trên duyệt và thông báo kịp thời các nội dung tuyên truyền, phát ngôn, bài viết; đề nghị và làm việc trực tiếp với cơ quan thông tấn, báo chí, công ty truyền thông độc lập để giao lưu, tuyên truyền thông tin không thông qua trình cấp trên; ghi chép, gửi phản ánh thông tin không trung thực, không đầy đủ, gây hiểu lầm, lạm dụng công nghệ thông tin, sử dụng mạng xã hội để truyền thông tin không đúng tinh thần, quy định của Đảng.
VIII. Vi phạm quy định về tài chính - kế toán (Điều 30):
- Vi phạm bao gồm: không thực hiện đúng, đầy đủ chế độ quản lý, sử dụng tài sản của Đảng và các nguồn tài chính theo quy định của Đảng, Nhà nước; lợi dụng chức vụ, quyền hạn để chiếm đoạt, lãng phí, thất thoát, nộp không đúng nguồn, nguồn nộp không đủ, chậm nộp nguồn do Đảng cấp; vi phạm qui chế, qui định về quản lý tài sản công, tài sản quỹ, tài sản bàn giao, quy trình, biểu mẫu kế toán, báo cáo tài chính, báo cáo quyết toán tài chính; không xây dựng, triển khai thực hiện chế độ, biện pháp phòng chống tham nhũng, lãng phí, thất thoát; chưa tiến hành kiểm tra, thanh tra theo đúng quy định.
Đây chỉ là một số điểm cơ bản về quy trình và nguyên tắc xử lý kỷ luật trong Đảng. Quy trình và nguyên tắc này có thể được điều chỉnh và bổ sung trong các tài liệu, hướng dẫn cụ thể của Đảng.
Nội dung bài viết:
Bình luận