Biện chứng trong kinh điển Phật giáo

“Không có gì ngớ ngẩn hay lố bịch đến mức không được triết gia này hay triết gia khác xem xét hay phát biểu. " –Descartes (1596-1650) 

biện chứng trong đạo phật
biện chứng trong đạo phật

Nói một cách ngắn gọn và dễ hiểu, phép biện chứng là xem xét, nhìn nhận, đánh giá mọi sự vật, hiện tượng theo hướng phát triển tích cực - Bất kể vấn đề, hoàn cảnh, bối cảnh nào (!) Phép biện chứng là một phương pháp triết học, cụ thể hơn là tư duy của con người - được phát triển theo một cách được đặc trưng bởi cái gọi là ba đoạn biện chứng: 

1. Luận đề: 

đầu tiên có một tư tưởng, một lý thuyết, một trào lưu nào đó gọi là “chủ đề”; Một luận điểm như vậy thường tạo ra điều ngược lại, vì giống như hầu hết mọi thứ trên trời và dưới đất, nó có thể sẽ có giá trị hạn chế và sẽ có nhược điểm. 

2. Phản đề:

 Ý kiến ​​hay trào lưu đối lập được gọi là “phản đề” vì nó nhằm chống lại luận đề thứ nhất. Cuộc đấu tranh giữa chính đề và phản đề vẫn tiếp tục cho đến khi tìm ra một giải pháp mà ở một khía cạnh nào đó, nó vượt qua cả chính đề và phản đề vì nó phát hiện ra những giá trị riêng của chúng và do đó cố gắng bảo tồn những tinh hoa và tránh những giới hạn của cả hai;

 3. Tổng hợp:

Thu được trong bước thứ ba này được gọi là “tổng hợp”. Sau khi hoàn thành, sự tổng hợp có thể trở thành bước đầu tiên trong ba đoạn biện chứng mới tiếp theo, và quá trình tương tự sẽ tiếp tục nếu sự tổng hợp cụ thể vừa đạt được trở nên không thuyết phục, thẳng thắn hoặc trở nên không hài lòng. Trong trường hợp này, điều ngược lại sẽ xảy ra một lần nữa, có nghĩa là sự tổng hợp kết quả có thể được mô tả như một luận điểm mới, tạo ra một phản đề mới. Như vậy, ba đoạn biện chứng sẽ lại mở ra ở tầng thứ cao hơn, và anh ta sẽ có thể đạt đến tầng thứ cao hơn trong một lần tổng hợp khác. Trong biển rộng bao la kinh Phật, triết lý. Mặc dù chúng tôi không đề cập đến thuật ngữ "biện chứng" như các trường phái triết học ở trên vẫn làm, nhưng "biện chứng" và "logic" đều mang tính chiêm nghiệm, minh bạch và bao hàm tất cả. Chúng tôi thậm chí có thể nói tất cả mọi thứ! Chỉ trích dẫn một vài ví dụ như sau:

 “Vô thường” có nghĩa là “không chắc chắn”, “thay đổi”, “không trường tồn”. Vô thường là một trong ba tính chất của vạn vật. Vô thường là đặc tính chung của mọi sự sinh có điều kiện, đó là trở thành, tồn tại và tan biến. Đây là bằng chứng tuyệt đối. 

“Vô ngã” là một trong ba Pháp ấn của sự vật theo Phật giáo. Vô ngã là một ấn chứng chỉ có trong Phật giáo, cho rằng không có Ngã, một cái gì thường hằng, bất biến, cốt yếu, vững chắc, tồn tại trong sự vật mà không phụ thuộc vào sự vật khác. Đây là bằng chứng tuyệt đối. “Tam độc” trong Phật giáo chỉ ba trạng thái tinh thần có hại: vô minh, tham lam và giận dữ. Bị ba độc tham, sân, si kìm hãm, chúng sinh luôn tạo ác nghiệp và do đó tạo nghiệp lực trong tâm thức dưới dạng tiền định, trói buộc tâm. Đây là bằng chứng tuyệt đối. Chỉ có thấu triệt quy luật vô thường, vô ngã và nguồn gốc của mọi vấn đề là “tam độc” thì khổ đau mới có thể giải quyết được - thì đó là Niết Bàn. 

Vì vậy, để hiểu được phép biện chứng phổ quát nhất, cần phải nghiên cứu những điều kỳ diệu trong kinh điển Phật giáo. Đồng thời, cần nghiên cứu kho tàng tục ngữ, ca dao, dân ca của tiền nhân để lại: “Ăn ngoan, học giỏi, nếu không sẽ phải – Tôn sư trọng đạo”.

Nội dung bài viết:

    Hãy để lại thông tin để được tư vấn

    comment-blank-solid Bình luận

    084.696.7979 19003330 Báo giá Chat Zalo