Bất cập trong pháp luật về kết hôn có yếu tố nước ngoài mới nhất

Giấy chứng nhận kết hôn hay giấy đăng ký kết hôn, trước đây còn gọi là Hôn thú hay giấy giá thú là một loại giấy tờ hộ tịch nhân thân được cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc các chủ thể khác công nhận và xác nhận một người có vợ hay có chồng theo quy định của luật pháp về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn. Hôm nay ACC sẽ giới thiệu đến các bạn nội dung về Bất cập trong pháp luật về kết hôn có yếu tố nước ngoài mới nhất 2023. Cùng ACC tìm hiểu ngay sau đây bạn nhé !

Thành Lập Công Ty Tư Vấn đầu Tư Chứng Khoán

Bất cập trong pháp luật về kết hôn có yếu tố nước ngoài mới nhất 2023

1. Hồ sơ đăng ký kết hôn với người nước ngoài tại Việt Nam là như thế nào ?

a. Giấy tờ phải xuất trình

- Hộ chiếu/CMND/thẻ CCCD hoặc các giấy tờ khác có dán ảnh và thông tin cá nhân do cơ quan có thẩm quyền cấp, còn giá trị sử dụng để chứng minh về nhân thân của công dân Việt Nam.

- Người nước ngoài xuất trình bản chính hộ chiếu để chứng minh về nhân thân; trường hợp người nước ngoài không có hộ chiếu để xuất trình thì có thể xuất trình giấy tờ đi lại quốc tế hoặc thẻ cư trú.

- Giấy tờ chứng minh nơi cư trú để xác định thẩm quyền đăng ký kết hôn. (trong giai đoạn chuyển tiếp).

b. giấy tờ phải nộp

- Tờ khai đăng ký kết hôn theo mẫu, có đủ thông tin của hai bên nam, nữ. Hai bên nam, nữ có thể khai chung vào một Tờ khai đăng ký kết hôn;

- Giấy xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền của Việt Nam hoặc nước ngoài xác nhận các bên kết hôn không mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác mà không có khả năng nhận thức, làm chủ được hành vi của mình;

- Giấy tờ chứng minh tình trạng hôn nhân của người nước ngoài do cơ quan có thẩm quyền của nước mà người đó là công dân cấp còn giá trị sử dụng, xác nhận hiện tại người đó không có vợ hoặc không có chồng;

Trường hợp nước ngoài không cấp xác nhận tình trạng hôn nhân thì thay bằng giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền nước ngoài xác nhận người đó có đủ điều kiện kết hôn theo pháp luật nước đó.

Giá trị sử dụng của giấy tờ chứng minh tình trạng hôn nhân của người nước ngoài được xác định theo thời hạn ghi trên giấy tờ đó.Trường hợp giấy tờ chứng minh tình trạng hôn nhân không ghi thời hạn sử dụng thì giấy tờ này và giấy xác nhận của tổ chức y tế có giá trị trong thời hạn 06 tháng, kể từ ngày cấp.

- Người nước ngoài, công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài phải nộp bản sao hộ chiếu/giấy tờ có giá trị thay thế hộ chiếu.

- Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân của công dân Việt Nam cư trú trong nước (trong giai đoạn chuyển tiếp).

c. Các loại giấy tờ khác

Ngoài giấy tờ nêu trên, tùy từng trường hợp, bên nam, bên nữ phải nộp hoặc xuất trình giấy tờ tương ứng sau đây:

- Công dân Việt Nam đã ly hôn hoặc hủy việc kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài phải nộp bản sao trích lục hộ tịch về việc đã ghi vào sổ việc ly hôn hoặc hủy việc kết hôn trái pháp luật (Trích lục ghi chú ly hôn);

- Công dân Việt Nam là công chức, viên chức hoặc đang phục vụ trong lực lượng vũ trang phải nộp văn bản của cơ quan, đơn vị quản lý xác nhận việc kết hôn với người nước ngoài không trái với quy định của ngành đó;

- Trường hợp người yêu cầu đăng ký kết hôn đang công tác, học tập, lao động có thời hạn ở nước ngoài thì phải nộp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân do Cơ quan đại diện ngoại giao, Cơ quan đại diện lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài cấp.

Lưu ý:

- Đối với giấy tờ phải nộp, xuất trình:

+ Trường hợp người yêu cầu nộp giấy tờ là bản sao được cấp từ sổ gốc hoặc bản sao được chứng thực từ bản chính thì người tiếp nhận hồ sơ không được yêu cầu xuất trình bản chính; nếu người yêu cầu chỉ nộp bản chụp và xuất trình bản chính thì người tiếp nhận có trách nhiệm kiểm tra, đối chiếu bản chụp với bản chính và ký xác nhận, không được yêu cầu nộp bản sao giấy tờ đó.

+ Đối với giấy tờ xuất trình khi đăng ký hộ tịch, người tiếp nhận có trách nhiệm kiểm tra, đối chiếu với thông tin trong tờ khai, chụp lại hoặc ghi lại thông tin để lưu trong hồ sơ và trả lại cho người xuất trình, không được yêu cầu nộp bản sao hoặc bản chụp giấy tờ đó.

+ Giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cấp, công chứng hoặc xác nhận để sử dụng cho việc đăng ký hộ tịch tại Việt Nam phải được hợp pháp hóa lãnh sự, trừ trường hợp được miễn theo điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên; giấy tờ bằng tiếng nước ngoài phải được dịch ra tiếng Việt và công chứng bản dịch hoặc chứng thực chữ ký người dịch theo quy định của pháp luật.

+ Người tiếp nhận có trách nhiệm tiếp nhận đúng, đủ hồ sơ đăng ký hộ tịch theo quy định của pháp luật hộ tịch, không được yêu cầu người đăng ký hộ tịch nộp thêm giấy tờ mà pháp luật hộ tịch không quy định phải nộp.

2. Quy định về trình tự đăng ký kết hôn với người nước ngoài tại Việt Nam

Bước 1: Nộp hồ sơ đăng ký kết hôn

- Người yêu cầu đăng ký kết hôn trực tiếp nộp hồ sơ tại UBND cấp huyện có thẩm quyền (bên nam hoặc bên nữ có thể trực tiếp nộp hồ sơ mà không cần có văn bản ủy quyền của bên còn lại).

- Người tiếp nhận có trách nhiệm kiểm tra ngay toàn bộ hồ sơ, đối chiếu thông tin trong Tờ khai và tính hợp lệ của giấy tờ trong hồ sơ do người yêu cầu nộp, xuất trình.

- Nếu hồ sơ đầy đủ, hợp lệ, người tiếp nhận hồ sơ viết giấy tiếp nhận, trong đó ghi rõ ngày, giờ trả kết quả;

Nếu hồ sơ chưa đầy đủ, hoàn thiện thì hướng dẫn ngay để người nộp hồ sơ bổ sung, hoàn thiện theo quy định;

Trường hợp không thể bổ sung, hoàn thiện hồ sơ ngay thì người tiếp nhận phải lập văn bản hướng dẫn, trong đó nêu rõ loại giấy tờ, nội dung cần bổ sung, hoàn thiện, ký, ghi rõ họ, tên của người tiếp nhận.

Bước 2: Thẩm tra hồ sơ đăng ký kết hôn

Phòng Tư pháp tiến hành nghiên cứu, thẩm tra hồ sơ đăng ký kết hôn.

Trường hợp có khiếu nại, tố cáo việc kết hôn không đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình hoặc xét thấy có vấn đề cần làm rõ về nhân thân của bên nam, bên nữ hoặc giấy tờ trong hồ sơ đăng ký kết hôn thì Phòng Tư pháp phối hợp với cơ quan có liên quan xác minh làm rõ.

Trong quá trình thẩm tra, xác minh hồ sơ, nếu thấy cần thiết, Phòng Tư pháp làm việc trực tiếp với các bên để làm rõ về nhân thân, sự tự nguyện kết hôn, mục đích kết hôn.

Bước 3: Cấp Giấy chứng nhận kết hôn

Nếu thấy hồ sơ hợp lệ, các bên có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình , không thuộc trường hợp từ chối đăng ký kết hôn theo quy định, Phòng Tư pháp báo cáo Chủ tịch UBND cấp huyện xem xét, quyết định.

Trường hợp Chủ tịch UBND đồng ý giải quyết thì ký 02 bản chính Giấy chứng nhận kết hôn.

- Phòng Tư pháp tổ chức trao Giấy chứng nhận kết hôn cho hai bên nam, nữ.

Lưu ý: Khi đăng ký kết hôn cả hai bên nam, nữ phải có mặt tại trụ sở UBND, công chức làm công tác hộ tịch hỏi ý kiến hai bên nam, nữ, nếu các bên tự nguyện kết hôn thì ghi việc kết hôn vào Sổ đăng ký kết hôn.

Công chức làm công tác hộ tịch hướng dẫn hai bên nam, nữ kiểm tra nội dung trong Giấy chứng nhận kết hôn và Sổ đăng ký kết hôn, nếu hai bên thấy nội dung đúng, phù hợp với hồ sơ đăng ký kết hôn thì công chức làm công tác hộ tịch cùng hai bên nam, nữ ký tên vào Sổ; hai bên nam, nữ cùng ký vào Giấy chứng nhận kết hôn.

Trường hợp một hoặc hai bên nam, nữ không thể có mặt để nhận Giấy chứng nhận kết hôn thì theo đề nghị bằng văn bản của họ, Phòng Tư pháp gia hạn thời gian trao Giấy chứng nhận kết hôn nhưng không quá 60 ngày, kể từ ngày Chủ tịch UBND cấp huyện ký Giấy chứng nhận kết hôn.

Hết 60 ngày mà hai bên nam, nữ không đến nhận Giấy chứng nhận kết hôn thì Phòng Tư pháp báo cáo Chủ tịch UBND cấp huyện hủy Giấy chứng nhận kết hôn đã ký. Nếu sau đó hai bên nam, nữ vẫn muốn kết hôn với nhau thì phải tiến hành thủ tục đăng ký kết hôn từ đầu.

3. Bất cập trong pháp luật về kết hôn có yếu tố nước ngoài mới nhất 2023

Đối với việc kết hôn tại Việt Nam có thể xảy ra một trong hai trường hợp: Một bên là công dân Việt Nam và một bên là công dân nước ngoài; cả hai bên đều là công dân nước ngoài. Đối với trường hợp thứ hai, khoản 1 Điều 103 Luật HN&GĐ năm 2000 quy định: “Việc kết hôn giữa những người nước ngoài với nhau tại Việt Nam trước cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam phải tuân theo các quy định của Luật này về điều kiện kết hôn”. Theo khoản 1 Điều 12 Nghị định số 68/2002/NĐ-CP ngày 10/7/2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 về quan hệ hôn nhân và gia đình (HN&GĐ) có yếu tố nước ngoài (YTNN) (Nghị định số 68) thì: “Trong trường hợp người nước ngoài (NNN) thường trú tại Việt Nam xin kết hôn với nhau thì Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh nơi thường trú của một trong hai bên đương sự thực hiện đăng ký việc kết hôn”.Theo các quy định này, chúng ta có thể hiểu NNN kết hôn với nhau tại Việt Nam có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền (CQCTQ) của Việt Nam tiến hành đăng ký kết hôn. Tuy nhiên, tại Việt Nam còn có cơ quan ngoại giao, cơ quan lãnh sự của nước ngoài. Vậy NNN có bắt buộc phải đăng ký kết hôn trước CQCTQ của Việt Nam hay không, hay họ có quyền lựa chọn việc kết hôn trước CQCTQ của Việt Nam hoặc cơ quan đại diện của nước họ tại Việt Nam thì pháp luật hiện hành chưa làm rõ. Chính điều này đã dẫn đến có hai quan điểm khác nhau. Quan điểm thứ nhất cho rằng, khi tiến hành kết hôn, NNN phải tiến hành trước CQCTQ của Việt Nam. Quan điểm thứ hai cho rằng, họ có thể nhưng không bị bắt buộc phải đăng ký kết hôn trước CQCTQ của Việt Nam.
Bên cạnh đó, giữa Nghị định số 68 và Luật HN&GĐ năm 2002 cũng có sự khác nhau về nội dung. Nếu khoản 1 Điều 103 Luật HN&GĐ năm 2000 chỉ quy định việc kết hôn của NNN tại Việt Nam mà không phân biệt NNN thường trú hay tạm trú ở Việt Nam, thì khoản 1 Điều 12 Nghị định số 68 quy định cụ thể NNN phải thường trú tại Việt Nam. Sự khác biệt trong quy định của hai văn bản dẫn đến hai quan điểm khác nhau. Quan điểm thứ nhất cho rằng, nếu hai bên NNN chỉ tạm trú tại Việt Nam thì họ không bị bắt buộc phải đăng ký kết hôn trước CQCTQ của Việt Nam. Nếu hai bên NNN đều thường trú tại Việt Nam thì họ bắt buộc phải đăng ký kết hôn trước CQCTQ của Việt Nam. Quan điểm thứ hai cho rằng, trong mọi trường hợp, NNN đều không bị bắt buộc phải đăng ký kết hôn trước CQCTQ của Việt Nam.
Như vậy, mặc dù pháp luật đã xác định CQCTQ giải quyết việc kết hôn nhưng việc xây dựng một quy định không rõ ràng cũng như sự thiếu thống nhất giữa Luật HN&GĐ năm 2000 và Nghị định số 68 đã dẫn đến có nhiều cách hiểu khác nhau mà mỗi cách hiểu sẽ đưa đến hậu quả pháp lý sau đó khác nhau. Nếu hiểu NNN thường trú tại Việt Nam bắt buộc phải đăng ký kết hôn trước CQCTQ của Việt Nam nhưng họ lại đăng ký kết hôn trước CQCTQ của nước họ thì quyết định kết hôn sẽ không được công nhận tại Việt Nam vì việc kết hôn trong trường hợp này trái với quy định của pháp luật Việt Nam và theo khoản 6 Điều 356, khoản 3 Điều 362 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (BLTTDS 2004) (sửa đổi, bổ sung năm 2011) thì đây là một trong những trường hợp không công nhận tại Việt Nam quyết định của nước ngoài.
Theo chúng tôi, quy định của khoản 1 Điều 103 Luật HN&GĐ năm 2000 và khoản 1 Điều 12 Nghị định số 68 cần phải được hiểu theo hướng: NNN không thường trú tại Việt Nam không bắt buộc phải đăng ký kết hôn trước CQCTQ của Việt Nam. Bởi lẽ, đối với những đối tượng này, thời gian cư trú của họ tại Việt Nam chưa thể xác định được có lâu dài hay không, nên việc bắt buộc họ phải đăng ký kết hôn trước CQCTQ của Việt Nam là không hợp lý. Bởi lẽ sau khi kết hôn có thể họ sẽ rời khỏi Việt Nam và như vậy những quyền và nghĩa vụ trong thời kỳ hôn nhân sẽ không phát sinh tại Việt Nam và sẽ rất khó khăn khi giải quyết ở nước ngoài vì quan hệ hôn nhân này chỉ có hiệu lực ở Việt Nam. Quan điểm này cũng được nhiều tác giả đồng tình[1]. Tuy nhiên, đối với NNN thường trú tại Việt Nam, theo chúng tôi, họ bắt buộc phải đăng ký kết hôn trước CQCTQ của Việt Nam nếu muốn quan hệ hôn nhân này được công nhận tại Việt Nam. Theo quy định tại khoản 2 Điều 9 Nghị định số 68 thì: “NNN thường trú tại Việt Nam là công dân nước ngoài và người không quốc tịch cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài ở Việt Nam”. Điều này có nghĩa là các vấn đề phát sinh từ quan hệ HN&GĐ của NNN thường trú tại Việt Nam sẽ phát sinh trên lãnh thổ Việt Nam cũng như việc giải quyết sẽ phải liên quan đến pháp luật Việt Nam. Bên cạnh đó, theo quy định tại điểm b khoản 14 Điều 8 Luật HN&GĐ thì quan hệ HN&GĐ có YTNN là quan hệ HN&GĐ “giữa NNN với nhau thường trú tại Việt Nam”.Các quan hệ này sẽ chịu sự chi phối của pháp luật Việt Nam điều chỉnh quan hệ dân sự có YTNN. Như vậy, việc bắt buộc NNN thường trú tại Việt Nam kết hôn với nhau phải đăng ký kết hôn trước CQCTQ của Việt Nam là điều cần thiết và hợp lý. Tuy nhiên, việc quy định không rõ ràng cụ thể của khoản 1 Điều 103 Luật HN&GĐ năm 2000 cũng như sự không thống nhất giữa quy định này với khoản 1 Điều 12 Nghị định số 68 đã dẫn đến nhiều cách hiểu không thống nhất, gây khó khăn cho việc áp dụng trên thực tế cũng như giải quyết các vấn đề khác có liên quan.
Từ các cơ sở trên, chúng tôi kiến nghị khoản 1 Điều 103 Luật HN&GĐ năm 2000 cần được sửa đổi, bổ sung như sau:
“a. Việc kết hôn tại Việt Nam giữa những NNN với nhau mà một trong hai bên hoặc cả hai bên không thường trú tại Việt Nam có thể tiến hành trước CQCTQ của Việt Nam.
b. Việc kết hôn tại Việt Nam giữa những NNN với nhau mà cả hai bên đều thường trú tại Việt Nam phải tiến hành trước CQCTQ của Việt Nam.
c. Việc kết hôn tại Việt Nam giữa NNN với nhau trước CQCTQ của Việt Nam phải tuân theo các quy định của Luật này về điều kiện kết hôn”.

4. Các câu hỏi thường gặp

a. Đăng kết hôn với người nước ngoài ở đâu ?

Trường hợp người nước ngoài cư trú tại Việt Nam có yêu cầu đăng ký kết hôn tại Việt Nam thì Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi cư trú của một trong hai bên thực hiện đăng ký kết hôn." Như vậy, theo quy định của pháp luật nói trên, bạn kết hôn với người nước ngoài nên thẩm quyền đăng ký kết hôn thuộc Ủy ban nhân dân huyện.

b. Thủ tục đăng ký kết hôn với người nước ngoài bao lâu ?

Theo quy định của Pháp luật Việt Nam (khoản 1 Điều 31 Nghị định 123/2015/NĐ-CP và Điều 32 Nghị định 123), tổng thời gian giải quyết thủ tục đăng ký kết hôn giữa người Việt Nam và người nước ngoài tại Việt Nam sẽ mất khoảng 13 ngày làm việc, nếu đủ hồ sơ hợp lệ và không có sự kiện gián đoạn.

Trên đây là những nội dung về Bất cập trong pháp luật về kết hôn có yếu tố nước ngoài mới nhất 2023 do Công ty Luật ACC cung cấp kiến thức đến khách hàng. ACC hy vọng bài viết này sẽ là nguồn thông tin hữu ích gửi đến quý bạn đọc

Nội dung bài viết:

    Hãy để lại thông tin để được tư vấn

    comment-blank-solid Bình luận

    084.696.7979 19003330 Báo giá Chat Zalo