Hiện nay bạn đọc có thể sẽ phải gặp những tình huống cần đến việc sử dụng các loại hợp đồng. Về vấn đề này, ACC xin đưa ra bài viết Một số bất cập trong quy định về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng để bạn đọc tham khảo như sau:

Một số bất cập trong quy định về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
1. Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là gì?
Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có nghĩa là loại trách nhiệm bồi thường không phát sinh từ quan hệ hợp đồng mà phát sinh ngoài hợp đồng giữa các bên, được pháp luật dân sự điều chỉnh.
Người có hành vi trái pháp luật xâm phạm đến tính mạng, danh dự, sức khỏe, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường thiệt hại.
2. Một số bất cập trong quy định về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
2.1 Gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật
Bộ luật dân sự năm 2005 và Bộ luật dân sự năm 2015 đều quy định về một căn cứ phát sinh nghĩa vụ là “gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật”. Ngoài ra, tại Mục II.A.2 của Thông tư số 173-TANDTC ngày 23/3/1972 của TANDTC hướng dẫn xét xử về BTTH ngoài hợp đồng ban hành ngày và Mục I.1.1.2 của Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC đều có quy định rằng trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng phải dựa trên hành vi trái pháp luật. Nhận thấy, tại các văn bản pháp luật nêu trên đều không có định nghĩa về “hành vi trái pháp luật” mà chỉ liệt kê các hành vi cụ thể như xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của chủ thể khác mà gây thiệt hại. Việc quy định mang tính liệt kê nêu trên được các nhà làm luật diễn giải là với mục đích hướng tới hậu quả của hành vi trái pháp luật. Bên cạnh đó, tại Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP quy định tính trái pháp luật cần được xem xét trong bản chất của chính hành vi đó. Sự xâm phạm nêu trên (đến lợi ích hợp pháp của chủ thể khác) là một yếu tố riêng rẽ với yếu tố “trái pháp luật”, và chỉ nên xem xét sự xâm phạm đó khi bàn về thiệt hại. Điều này thể hiện ở việc các yếu tố xâm phạm trong Nghị quyết chỉ được nhắc đến ở những quy định về thiệt hại mà không phải ở các quy định về “hành vi trái pháp luật”.
Qua thực tiễn áp dụng pháp luật thời gian qua tồn tại những cách hiểu khác nhau về tính trái pháp luật có thể dẫn đến sự không thống nhất trong xét xử khi đánh giá các chứng cứ liên quan đến hành vi trái pháp luật. Về mặt luật thực định và tính thống nhất của BLDS, chúng tôi cho rằng giữa hai cách hiểu trên thì nên áp dụng cách diễn giải thứ nhất, tính trái pháp luật trong quan hệ BTTH ngoài hợp đồng hướng tới hậu quả sẽ phù hợp với chức năng của chế định từ góc nhìn lý thuyết bù đắp thiệt hại trong trường hợp chủ thể bị xâm hại quyền và lợi ích hợp pháp.
2.2 Thiệt hại thực tế
Một nguyên tắc BTTH ngoài hợp đồng là “Thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Các bên có thể thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.” Tuy nhiên, Bộ luật dân sự hiện nay không có hướng dẫn cụ thể thế nào là thiệt hại thực tế và cơ sở để xác định thiệt hại thực tế dựa trên nguồn nào, tuy nhiên tùy từng vụ án thì Tòa án thường có những đánh giá chứng cứ khác nhau.
Xét Bản án dân sự sơ thẩm số 15/2019/DS-ST ngày 06/5/2019 của TAND thị xã T, tỉnh B về vụ án “Yêu cầu BTTH” giữa nguyên đơn là ông Thái Văn T với bị đơn là ông Nguyễn Công Tr, có nội dung: Trong quá trình sử dụng đất, năm 2013 ông T phát hiện ông Tr khai thác khoáng sản làm sụt lở đất của ông T (thửa số 52). Ông Tr có giấy phép khai thác khoáng sản số 15. Thửa đất số 28 ông Tr khai thác khoáng sản có một cạnh giáp với thửa đất của ông T. Phía nguyên đơn cho rằng: việc khai thác khoáng sản của bị đơn làm sụt lở đất của nguyên đơn. Còn phía bị đơn cho rằng: Tiếp giáp thửa 28 và thửa 52 có dòng nước chảy từ đường ĐH 423 đổ xuống qua hai thửa đất làm sụt lở một phần thửa 28 của ông Tr. Tiếp giáp thửa 28 và thửa 52 có dòng nước chảy từ đường ĐH 423 đổ xuống qua hai thửa đất làm sụt lở một phần thửa 28 của ông Tr.
Tòa án cấp sơ thẩm nhận định rằng hành vi khai thác đất của ông Tr là có thật, đại diện bị đơn thừa nhận việc khai thác đất cạnh phần đất của ông T và đồng ý gia cố, lắp cống, đổ đất để khắc phục cho nên có căn cứ xác định hành vi khai thác đất ở thửa đất số 28 là một trong những nguyên nhân gây ra sạt lở đất ở thửa số 58. Ông Tr là chủ công trình khai thác đất có trách nhiệm BTTH theo qui định tại Điều 627 BLDS năm 2005. Tuy nhiên, theo biên bản xác minh ngày 01/11/2017 của Tòa án nhân dân thị xã T, có cơ sở xác định nguyên nhân gây ra thiệt hại về quyền sử dụng đất của ông T ngoài việc do ông Tr khai thác đất còn có đường nước chảy qua, địa hình dốc, trời mưa gây sụt lở đất. Như vậy, ngoài hành vi khai thác đất của ông Tr còn có yếu tố tự nhiên, thời tiết gây ra sụt lở. Thực tế, thiệt hại xảy ra do nguyên nhân chứ không phải do hành vi khai thác đất của ông Tr cho nên có cơ sở xác định ông Tr chỉ có ½ lỗi gây ra thiệt hại. Như vậy, Tòa án nhân dân thị xã T xác định nguồn gây thiệt hại là do yếu tố tự nhiên bên cạnh hành vi trái pháp luật là có cơ sở.
2.3 Thiệt hại về tinh thần
Trong khi thiệt hại vật chất là yếu tố khách quan có thể dễ dàng nhận biết và đo lường thì thiệt hại về tinh thần lại thiên về mặt chủ quan, trừu tượng, rất khó xác định và quy đổi thành giá trị kinh tế. Tại các điều 590, 591, 592, 606, 607 của BLDS năm 2015 đã đặt ra một số mức trần về thiệt hại tinh thần trong những trường hợp có sự xâm phạm các giá trị nhân thân: xâm phạm về sức khỏe, tính mạng, danh dự, nhân phẩm, uy tín, thi thể, mồ mả. Tại Điều 592 BLDS năm 2015 chỉ đưa ra mức bồi thường tối đa cho trường hợp này là mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định, mà không có hướng dẫn chi tiết về cơ sở để xác định mức bồi thường. Tuy nhiên, việc chỉ đưa ra mức trần sẽ dẫn đến sự lúng túng, không thống nhất khi xét xử của Tòa án trong việc xác định mức độ thiệt hại và mức bồi thường tương xứng. Bên cạnh đó, tại Mục I.1.1. Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP hướng dẫn Tòa án cần xem xét đến các tình tiết cụ thể chẳng hạn như mức độ nghiêm trọng của hành vi xâm phạm, mức độ giảm sút hoặc mất uy tín, bị bạn bè xa lánh do bị hiểu nhầm, thời gian chịu đựng tổn thất, mức độ đau thương, buồn phiền, mất mát về tình cảm.
Xét Bản án sơ thẩm dân sự số 05/2017/DS-ST ngày 17/8/2017 của TAND huyện B, tỉnh L, nguyên đơn yêu cầu bị đơn bồi thường do sáng mùng một Tết cổ truyền bị đơn đến trước cửa nhà nguyên đơn chửi bới. Nguyên đơn yêu cầu bị đơn BTTH tinh thần do bị xâm phạm danh dự, uy tín là 7.000.000 đồng. Tòa án cho rằng không có căn cứ bồi thường 7.000.000 đồng, mà tuyên xử ở mức 03 tháng lương cơ bản, tương ứng 3.900.000 đồng. Tuy nhiên, Tòa án cũng không đưa ra được lập luận thuyết phục trong việc lựa chọn mức bồi thường như trên, Tòa án cho rằng với mức bồi thường là 7.000.000 đồng không tương xứng với thiệt hại mà nguyên đơn chứng minh.
2.4 Thiệt hại về tinh thần do tính mạng bị xâm phạm
Quy định về mức BTTH về tinh thần do tính mạng bị xâm phạm giữa Bộ BLDS năm 2015 và Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước năm 2017 có sự khác nhau dẫn đến vướng mắc trong công tác xét xử. Cụ thể là tại khoản 2 Điều 591 BLDS năm 2015 quy định “Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có tính mạng bị xâm phạm không quá một trăm lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định”; khoản 4 Điều 27 Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước năm 2017 quy định mức bồi thường cao hơn nhiều: “Thiệt hại về tinh thần trong trường hợp người bị thiệt hại chết được xác định là 360 tháng lương cơ sở. Trường hợp người bị thiệt hại chết thì không áp dụng BTTH về tinh thần quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 5 Điều này.” Do có sự khác nhau giữa quy định của Bộ luật dân sự và Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước nên trong một vụ án có cả cá nhân, tổ chức dân sự và cả nhà nước cùng có trách nhiệm liên đới thì việc xác định mức thiệt hại và phân bổ trách nhiệm bồi thường sẽ khó khăn. Mặt khác, đối với các vụ án mà có một bên là cơ quan Nhà nước thì phía cá nhân, tổ chức bị thiệt hại thường yêu cầu áp dụng Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước để được hưởng mức bồi thường lớn tuy nhiên lại gây lúng túng cho Tòa án trong việc lựa chọn pháp luật áp dụng.
3. Câu hỏi thường gặp
1. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo quy định pháp luật là gì?
Căn cứ theo quy định tại Điều 584 Bộ luật Dân sự năm 2015, căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng như sau:
- Người có hành vi xâm phạm tính mạng, danh dự, sức khỏe, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp có quy định khác.
- Người gây ra thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hay hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
- Trường hợp tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp thiệt hại đó phát sinh do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại
Như vậy, căn cứ theo quy định trên, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng phát sinh khi có những điều kiện sau:
- Có thiệt hại xảy ra
- Hành vi gây ra thiệt hại là hành vi trái pháp luật
- Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại thực tế xảy ra.
- Có lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý của người gây ra thiệt hại.
2. Nguyên tắc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo quy định pháp luật là gì?
Theo quy định tại Điều 585 Bộ luật Dân sự năm 2015, nguyên tắc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được quy định như sau:
- Thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Các bên trong quan hệ có thể thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường thiệt hại nếu không có lỗi hoặc có lỗi vô ý và thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế của mình.
- Khi mức bồi thường thiệt hại không còn phù hợp với thực tế thì bên bị thiệt hại hoặc bên gây thiệt hại có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường.
- Khi bên bị thiệt hại có lỗi trong việc gây thiệt hại thì không được bồi thường phần thiệt hại mà do lỗi của mình gây ra.
- Bên có quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm không được bồi thường nếu thiệt hại xảy ra do không áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại cho chính mình.
Việc tìm hiểu về hợp đồng sẽ giúp ích cho bạn đọc nắm thêm kiến thức về vấn đề này, đồng thời những vấn đề khác xoay quanh nó cũng đã được chúng tôi trình bày như trên.
Trên đây là toàn bộ nội dung giới thiệu của ACC về Một số bất cập trong quy định về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng gửi đến quý bạn đọc để tham khảo. Trong quá trình tìm hiểu nếu như quý bạn đọc còn thắc mắc cần giải đáp, quý bạn đọc vui lòng truy cập trang web: https: accgroup.vn để được trao đổi, hướng dẫn cụ thể.
Nội dung bài viết:
Bình luận