Có bản quyền về giọng nói không ? 

Quyền sở hữu bản quyền cho phép chủ sở hữu được độc quyền sử dụng tác phẩm, trừ một số trường hợp ngoại lệ. Khi một người tạo ra tác phẩm gốc, được cố định trong một phương tiện hữu hình, người đó nghiễm nhiên sở hữu bản quyền đối với tác phẩm đó. Trong bài viết này, Luật ACC sẽ làm rõ một số thắc mắc của khách hàng liên quan đến vấn đề có bản quyền giọng nói không ? 

Tải Xuống
Bản quyền giọng nói

1. Bản quyền là gì ? 

Bản quyền (hay quyền tác giả) là một thuật ngữ pháp lý được sử dụng để mô tả quyền mà tác giả có đối với các tác phẩm văn học và nghệ thuật của họ. Các tác phẩm thuộc phạm vi bản quyền bao gồm từ sách, nhạc, tranh, điêu khắc và phim, đến các chương trình máy tính, cơ sở dữ liệu, quảng cáo, bản đồ và bản vẽ kỹ thuật.

2. Đối tượng được bảo hộ bản quyền. 

Quyền sở hữu bản quyền cho phép chủ sở hữu được độc quyền sử dụng tác phẩm, trừ một số trường hợp ngoại lệ. Khi một người tạo ra tác phẩm gốc, được cố định trong một phương tiện hữu hình, người đó nghiễm nhiên sở hữu bản quyền đối với tác phẩm đó.

Nhiều loại tác phẩm đủ điều kiện được bảo hộ bản quyền, ví dụ:

  • Tác phẩm nghe nhìn, chẳng hạn như chương trình truyền hình, phim và video trực tuyến
  • Bản ghi âm và bản sáng tác nhạc
  • Tác phẩm viết, chẳng hạn như các bài giảng, bài báo, sách và bản sáng tác nhạc
  • Tác phẩm hình ảnh, chẳng hạn như tranh vẽ, áp phích và quảng cáo
  • Trò chơi điện tử và phần mềm máy tính
  • Tác phẩm kịch, chẳng hạn như vở kịch và nhạc kịch

3. Có bản quyền về giọng nói không ? 

Theo pháp luật hiện hành, đối tượng bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ bao gồm: quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả (quyền liên quan), quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng. Theo đó, giọng nói của một người không nằm trong các đối tượng được bảo hộ theo quy định của Luật SHTT.

Tuy nhiên, chúng ta có thể gián tiếp bảo vệ giọng nói của chính mình bằng cách sau:

Căn cứ Khoản 2 Điều 4 Luật SHTT quy định như sau: “Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với các tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu”. Quyền tác giả được ghi nhận cho các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học như sách, bài giảng, tác phẩm âm nhạc, tác phẩm sân khấu, tác phẩm điện ảnh, tác phẩm tạo hình và mỹ thuật ứng dụng, tác phẩm nhiếp ảnh, tác phẩm kiến trúc, phần mềm máy tính. Quyền tác giả tự động phát sinh từ thời điểm tác phẩm được định hình dưới một hình thức vật chất nhất định, bất kể tác phẩm đã công bố hay chưa công bố, đã đăng ký hay chưa đăng ký.

Bên cạnh đó, theo Khoản 3 Điều 4 Luật SHTT quy định như sau: “Quyền liên quan đến quyền tác giả (gọi là quyền liên quan) là quyền của cá nhân, tổ chức đối với cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, tín hiệu vệ tinh, chương trình phát sóng mang chương trình được mã hóa”. Theo đó, những cá nhân, tổ chức khác nhau được sở hữu quyền liên quan này khi họ thực hiện một cuộc biểu diễn hoặc một buổi ghi hình, ghi âm,…

Như vậy, bằng cách thông qua các buổi biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình…, chúng ta có thể bảo vệ giọng nói của mình. Nhưng cũng cần phải lưu ý rằng, giọng nói của một người tách riêng sẽ không được bảo hộ.

4. Có thể bảo hộ giọng nói dưới dạng bảo hộ nhãn hiệu không ? 

Đối tượng quyền sở hữu công nghiệp bao gồm sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, bí mật kinh doanh, nhãn hiệu, tên thương mại và chỉ dẫn địa lý.

Nhãn hiệu được định nghĩa là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau. Cụ thể hơn tại Điều 72 của Luật SHTT thì:

“Điều 72. Điều kiện chung đối với nhãn hiệu được bảo hộ

Nhãn hiệu được bảo hộ nếu đáp ứng các điều kiện sau đây:

  1. Là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều mầu sắc;
  2. Có khả năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hóa, dịch vụ của chủ thể khác.”

Theo quy định luật Sở hữu trí tuệ của Việt Nam nêu trên thì nhãn hiệu muốn được bảo hộ phải nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều. Như vậy, đối chiếu với quy định tại Điều 72 thì giọng nói không phải là dấu hiệu được bảo hộ là nhãn hiệu trong luật Sở hữu trí tuệ của Việt Nam.

Tuy nhiên, khi pháp luật về Sở hữu trí tuệ của Việt Nam đang đề cập đến bảo hộ nhãn hiệu âm thanh, tương tự như vậy, có lẽ giọng nói cũng nên được xem xét bảo hộ dưới dạng nhãn hiệu.

Chức năng đầu tiên và cơ bản nhất của nhãn hiệu là phân biệt hàng hóa/dịch vụ của các nhà cung cấp khác nhau. Để thực hiện được chức năng này thì các dấu hiệu được sử dụng làm nhãn hiệu phải có tính phân biệt nhất định thì mới có thể giúp người tiêu dùng ghi nhớ và nhận biết trên thị trường.

Tính phân biệt (hay còn gọi là khả năng phân biệt của nhãn hiệu) là nội dung trọng tâm trong pháp luật về nhãn hiệu của tất cả các nước, là vấn đề cốt lõi được xem xét đến trong quá trình thẩm định đơn đăng ký nhãn hiệu.

Đối với các dấu hiệu không thể nhận biết được bằng thị giác như giọng nói, việc đánh giá khả năng phân biệt sẽ phức tạp hơn. Nhưng cũng phải thừa nhận rằng, giọng nói của một người là dấu hiệu có thể phân biệt được. Thông qua giọng nói, người nghe có thể xác minh được tâm trạng của người nói chuyện đang vui hay buồn, bình thản hay cáu giận. Cùng một nội dung sự việc nhưng âm sắc giọng nói khác nhau đã đủ biểu đạt ý nghĩa không giống nhau.

Theo một số chuyên gia ngôn ngữ, chỉ cần nghe giọng nói của một người thôi cũng có thể đoán được đặc điểm tính cách, địa vị và thậm chí là tuổi nữa. Chẳng hạn như, độ lớn và cường độ âm thanh trong lời nói của những người có địa vị cao trong xã hội thường tăng cao hơn bình thường, đồng thời âm sắc của giọng nói cũng trở nên đơn điệu hơn.

Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng, các từ ngữ, khẩu hiệu và âm sắc mà một giọng nói tạo ra được có thể được bảo hộ, nhưng bản thân giọng nói đó thì lại không xác định. Không có sự hiện thân của một ý tưởng nào trong giọng nói ngoài những suy nghĩ của người nói ra chúng ngay tại thời điểm đó. Vì “âm thanh không cố định”, không thể có biện pháp bảo vệ quyền SHTT nào có sẵn cho vô số từ hoặc cụm từ mà một người có thể thốt ra bằng giọng nói đặc biệt của họ.

Từ những phân tích ở trên cho thấy, hoàn toàn có cơ sở để cơ quan chức năng chấp thuận đăng ký giọng nói của một người làm nhãn hiệu. Tuy nhiên, chỉ có thể đăng ký đối với một số cụm từ hoặc cách sắp xếp từ ngữ cụ thể nào đó được xác định rõ ràng trong hồ sơ đăng ký (Ví dụ: thông qua một tệp âm thanh). Nói chung, điều này sẽ không cấp độc quyền cho giọng nói của chúng ta, nhưng có thể bảo vệ ở một số khía cạnh, chẳng hạn như những câu nói, châm ngôn nổi tiếng của chính mình.

Trên đây là nội dung bài viết của Luật ACC về “Có bản quyền về giọng nói không? ”. Bài viết trên là những thông tin cần thiết mà quý độc giả có thể áp dụng vào đời sống thực tiễn. Trong thời gian tham khảo nếu có những vướng mắc hay thông tin nào cần chia sẻ hãy chủ động liên hệ và trao đổi cùng luật sư để được hỗ trợ đưa ra phương án giải quyết cho những vướng mắc pháp lý mà khách hàng đang mắc phải. 

 

 

 

Nội dung bài viết:

    Hãy để lại thông tin để được tư vấn

    comment-blank-solid Bình luận

    084.696.7979 19003330 Báo giá Chat Zalo