
1. Vụ án số 57/2023/AL về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong khuôn khổ tội “trộm cắp tài sản”
Nguồn án lệ: Bản án hình sự phúc thẩm số 590/2020/HS-PT ngày 18/12/2020 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong vụ án “Trộm cắp tài sản” đối với bị cáo Nguyễn Thanh Quốc B.
Tình huống vụ án: Bị cáo dùng thủ đoạn gian dối lừa người quản lý tài sản chuyển tài sản cho bị cáo, sau đó lợi dụng sơ hở để nhanh chóng tẩu thoát.
Giải pháp pháp lý: Trong trường hợp này, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Trộm cắp tài sản”.
Nội dung bản án:
“[4] Xét Quyết định kháng nghị số 46/QĐ-VKS-P7 ngày 25/9/2020 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử nhận thấy: Bị cáo Nguyễn Thanh Pays B có thủ đoạn lừa đảo để để nạn nhân thấy bị cáo có tiền, nhằm tạo lòng tin để chiếm đoạt tài sản. Tại thời điểm bị cáo thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản, các bên thực hiện hành vi giao - nhận tiền, việc chuyển giao tài sản giữa bị hại và bị cáo chưa hoàn thành, bị cáo chưa ký nhận. các tài liệu. , tài sản vẫn nằm trong tầm kiểm soát của các bị hại, bị cáo tăng ga và điều khiển phương tiện bỏ trốn cùng tài sản. Vì vậy, hành vi của bị cáo Nguyễn Thanh Quốc B đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Bản án sơ thẩm số 111/2020/HSST ngày 27/8/2020 của Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh đã áp dụng khoản 2 Điều 171 BLHS 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2015 năm 2017, xử phạt hành vi bị cáo Nguyễn Thành Quốc B là có căn cứ, hợp pháp.
2. Trước án số 58/2023/AL về tình tiết định tội tại điểm c khoản 3 Điều 244 Bộ luật hình sự
Nguồn Án lệ: Bản án hình sự số 179/2018/HSST ngày 14/9/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh trong vụ án “Vi phạm các quy định về bảo vệ động vật trong quá trình mất tích ”. của quý, của hiếm” đối với bị cáo Hoàng Đình Q.
Tình huống vụ án: Bị cáo vận chuyển 05 cá thể hổ và 01 bộ phận không thể tách rời sự sống của cá thể hổ thứ 6. Giải pháp pháp lý: Trong trường hợp này, bị can phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 244 BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017).
Nội dung bản án:
“[13] Bị cáo vận chuyển 05 con hổ đông lạnh có tên khoa học là Panthera tigris; 01 bộ phận sinh dục đực của loài hổ có tên khoa học Tiger Panthera, theo kết luận giám định là bộ phận không thể tách rời sự sống của hổ; 41 kg thịt hổ có tên khoa học là Panthera tigris, theo kết luận giám định, nếu toàn bộ số thịt trên thuộc về 1 cá thể hổ sẽ dẫn đến việc hổ không thể tồn tại; …
…[16] Kết luận giám định chưa xác định bộ phận sinh dục của hổ đực có thuộc loài nào trong 5 cá thể hổ bị đông lạnh hay không. Do toàn bộ số tang vật trên đã bị tiêu hủy nên không thể giám định thêm. Tuy nhiên, theo biên bản xác định tình trạng sản phẩm và sức khỏe động vật (bút lục 89) thì 05 con hổ chết đông lạnh là hổ con có trọng lượng từ 0,99kg đến 2,99kg; 01 bộ phận sinh dục hổ đực nặng 0,98kg. Như vậy, căn cứ vào trọng lượng tính bằng kg, có cơ sở để khẳng định bộ phận sinh dục của 01 con hổ đực không phải là bộ phận sinh dục của 01 trong 05 hổ con đông lạnh vì không loài hổ nào có thể có bộ phận sinh dục. cân nặng. Theo kết luận giám định, bộ phận sinh dục này là một phần không thể tách rời sự sống của con hổ, tức là phải giết con hổ thứ 6 mới lấy được bộ phận sinh dục này để bị cáo vận chuyển. Tức là bị cáo Q có tình tiết cõng 05 con hổ và 01 con là một phần không thể thiếu trong cuộc sống của con hổ thứ 6…
[18] Từ quy định của pháp luật, có thể thấy, chỉ riêng hành vi vận chuyển bộ phận sống của 06 con hổ trở lên đã cấu thành hành vi vi phạm điểm c khoản 3 Điều 244 BLHS. Nội dung của luật này nhằm xử lý các hành vi phạm tội nghiêm trọng liên quan đến tính mạng của 06 con hổ trở lên. Việc bị cáo vận chuyển 05 con hổ và 01 bộ phận không thể tách rời sự sống của cá thể hổ thứ 6 là xâm phạm đến tính mạng của 06 con hổ nên phải bị xử lý theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 244 BLHS.
3. Vụ án số 59/2023/AL về lỗi cố ý gián tiếp trong vụ án “giết người”
Nguồn án lệ: Bản án phúc thẩm số 50/2020/HS-PT ngày 10/12/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Yên Bái vụ án “Giết người” đối với các bị cáo Triệu Văn M, Đặng Văn T. Tình huống: Bị cáo dùng hung khí nguy hiểm tấn công nạn nhân. Nạn nhân chạy xe máy bỏ chạy, bị cáo tiếp tục bỏ chạy khiến nạn nhân sợ hãi phải tăng tốc bỏ chạy. Khi nạn nhân bị tai nạn, bị cáo mới dừng việc truy đuổi. Nạn nhân tử vong trên đường đến bệnh viện.
Giải pháp pháp lý: Trong trường hợp này, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Giết người” với lỗi cố ý gián tiếp. Nội dung bản án:
“[3] Lời khai tại phiên tòa phúc thẩm của bị cáo Đặng Văn T và bị cáo Triệu Văn M là thống nhất với nhau và với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ như lời khai của Nguyễn Thị L, kết luận giám định , biên bản khám nghiệm hiện trường và các vật chứng thu giữ được trong vụ án, từ đó có đủ căn cứ xác định: vào khoảng 20h ngày 20/12/2018, Đặng Văn T và Triệu Văn M dùng tay chân đá vào người, sau đó dùng gậy sắt đánh nhiều nhát vào đầu, mặt, tay, sườn và lưng của Nguyễn Ngọc V. Khi V điều khiển xe máy bỏ chạy, T và M tiếp tục dùng xe máy với tốc độ 50km/h tẩu thoát, T cầm theo một thanh sắt và M. la lên “Mẹ mày dừng lại” rồi tăng ga bỏ chạy, khi đến ngã ba thuộc thôn 4, xã T, huyện Y do đi nhanh không làm chủ tay lái nên V đã điều khiển xe lao qua đường. cho đến khi 'đến một chỗ trống, bị ngã và chết trên đường. Đi đến phòng cấp cứu.
[4] Hành vi của bị cáo T và M dùng dùi cui kim loại là hung khí nguy hiểm đánh liên tiếp vào đầu, mặt và người của V rồi dùng xe máy đuổi theo V là rất nguy hiểm. Anh V. trong tình trạng có thể bị đánh nhưng vẫn bị các bị cáo đuổi theo, uy hiếp và ép buộc khiến anh V lo sợ sẽ tiếp tục bị đánh nên đã điều khiển xe máy bỏ chạy với tốc độ cao, trên đường liên TP. thôn bê tông có nhiều khúc cua tay áo liên tiếp, nhiều đoạn có độ dốc lớn trong điều kiện trời tối dễ xảy ra tai nạn nguy hiểm có thể dẫn đến chết người. Bị cáo hẳn đã biết điều này nhưng vẫn tiếp tục truy đuổi MV suốt 1300 mét cho đến khi thấy MV ngã khỏi xe mới dừng lại. Với hành vi nguy hiểm trên, có đủ căn cứ xác định hành vi phạm tội của các bị cáo là rất quyết liệt, chứng tỏ các bị cáo không chủ quan muốn hậu quả chết người xảy ra mà có ý định thực hiện. việc ông V. đã chết.
[5] Như vậy, có đủ căn cứ kết luận bị cáo T và M phạm tội “giết người” với lỗi cố ý gián tiếp…”
4. Vụ việc số 60/2023/AL về thời hạn trả thưởng xổ số
Nguồn án lệ: Quyết định giám đốc thẩm số 239/2022/DS-GĐT ngày 05/9/2022 của Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh trong vụ án “Tranh tụng liên quan đến việc trả thưởng xổ số”. “Số nhà” giữa Nguyên đơn là ông Thái Hữu T và Bị đơn là Công ty TNHH MTV Xổ số kiến thiết A.
Tình huống án lệ: Thể lệ tham gia dự thưởng của công ty xổ số kiến thiết xác định thời hạn trả thưởng đối với vé số trúng thưởng được tính theo ngày.
Giải pháp pháp lý: Trường hợp này, Tòa án phải xác định ngày đầu tiên của thời hạn không được tính mà tính từ ngày tiếp theo liền kề ngày được xác định theo quy định tại khoản 2 Điều 147 Bộ luật Dân sự năm 2015; ngày cuối cùng của thời hạn trả thưởng được xác định theo quy định tại Điều 148 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Nội dung án lệ:
“[2] Tại khoản 1 Điều 30 Thông tư 75/2013/TT-BTC ngày 4 tháng 6 năm 2013 quy định “Thời hạn lĩnh thưởng của vé xổ số trúng thưởng là 30 ngày, kể từ ngày xác định kết quả trúng thưởng hoặc kể từ ngày hết hạn lưu hành của vé xổ số...”, Tờ vé số do Công ty xổ số kiến thiết A phát hành loại vé số kiến thiết truyền thống 06 số có ký hiệu AG-10K5 mang số F123007 ngày 29 tháng 10 năm 2020, ngày quay mở thưởng là ngày 29 tháng 10 năm 2020; phía mặt sau của tờ vé số có ghi nhận “Quá thời hạn 30 ngày kể từ ngày xác định kết quả trúng thưởng, những vé trúng thưởng không người lãnh sẽ sung công quỹ”.
[3] Căn cứ vào những quy định trên có cơ sở xác định: Công ty xổ số kiến thiết A với người mua vé số chấp nhận quy định chung về thời hạn để tính trúng thưởng là “ngày”; Tại khoản 2 Điều 147 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Khi thời hạn được xác định bằng ngày, tuần, tháng, năm thì ngày đầu tiên của thời hạn không được tính mà tính từ ngày tiếp theo liền kề ngày được xác định”.
[4] Theo tờ vé số kiến thiết truyền thống 06 số do ông Thái Hữu T trúng thưởng có ký hiệu AG-10K5 mang số F123007 ngày 29 tháng 10 năm 2020 của Công ty xổ số kiến thiết A phát hành có kết quả xổ số là ngày 29 tháng 10 năm 2020. Trong trường hợp này, ngày bắt đầu của khoảng thời gian 30 ngày của Vé số ngày 29 tháng 10 năm 2020 sẽ được xác định là "ngày 30 tháng 10 năm 2020", khoảng thời gian này kết thúc vào cuối ngày cuối cùng của khoảng thời gian 24 giờ. (một ngày là hai mươi bốn giờ)…
[6] Theo khoản 1, 5 và 6 Điều 148 BLDS 2015 quy định: “1. Trong trường hợp thời hạn tính bằng ngày thì thời hạn kết thúc vào ngày cuối cùng của ngày cuối cùng của thời hạn; 5. Khi ngày cuối cùng của thời hạn là ngày nghỉ cuối tuần hoặc ngày nghỉ lễ thì thời hạn kết thúc vào cuối ngày làm việc tiếp theo ngày nghỉ lễ đó; 6. Ngày cuối cùng của thời hạn kết thúc vào lúc hai mươi bốn giờ kể từ ngày này”.
[7] Căn cứ vào những phân tích trên, Tòa án cấp phúc thẩm xác định tờ vé số của ông T là trúng thưởng và thời gian cho phép ông T liên hệ để nhận giải thưởng là 30 ngày là phù hợp với quy định. của Công ty Xổ số kiến thiết A và chấp nhận đơn khởi kiện của ông T; buộc Công ty xổ số kiến thiết A phải trả thưởng cho ông Thái Hữu T đối với tờ vé số ký hiệu AG-10K5 mang bộ số F123007 trúng giải đặc biệt trị giá 2.000.000.000 đồng là có căn cứ pháp luật.
5. Án lệ số 61/2023/AL về chấm dứt việc nuôi con nuôi khi con nuôi chưa thành niên
Nguồn án lệ: Quyết định sơ thẩm số 87/2019/QĐST-HNGĐ ngày 24/4/2019 của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai về việc “Yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi”, người yêu cầu là ông Trần Công T, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Thanh H và chị Trần Thị Thảo T1.
Tình huống án lệ: Cha đẻ, mẹ đẻ và cha nuôi, mẹ nuôi thống nhất giao lại con nuôi chưa thành niên cho cha đẻ, mẹ đẻ tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng; con nuôi có nguyện vọng được về sống với cha đẻ, mẹ đẻ và cha nuôi, mẹ nuôi có yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi.
Giải pháp pháp lý: Trường hợp này, Tòa án phải chấp nhận yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi.
Nội dung án lệ:
“[7] Năm 2015, ông Trần Công T và bà Nguyễn Thị Q nhận nuôi cháu Nguyễn Minh Khánh H1 là con đẻ của anh Nguyễn Thanh H và chị Trần Thị Thảo T1 làm con nuôi, các bên có làm hồ sơ nhận nuôi con nuôi và được Ủy ban nhân dân xã A cấp giấy chứng nhận nuôi con nuôi số 01 ngày 15/9/2015 nên quan hệ nuôi con nuôi là hợp pháp và các bên đều thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.
[8] Nay cháu H1 có nguyện vọng về ở với bố mẹ đẻ để có điều kiện chăm sóc và hỗ trợ các em ăn học, được bố mẹ nuôi là ông T, bà Q và bố mẹ đẻ là anh H, chị T1 đồng ý, nên ông T, bà Q làm đơn đề nghị Tòa án chấm dứt việc nuôi con nuôi là tự nguyện và phù hợp với quy định tại Ðiều 78 của Luật Hôn nhân và gia đình và Ðiều 25 của Luật Nuôi con nuôi. Vì vậy, chấp nhận yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi của ông Trần Công T, bà Nguyễn Thị Q và cháu Trần Minh Khánh H1 là cần thiết.”
6. Án lệ số 62/2023/AL về thời điểm bắt đầu thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chưa thành niên trong tranh chấp xác định cha của con
nguồn trước: Bản án phúc thẩm số 07/2018/HN-PT ngày 22/3/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước vụ án hôn nhân và gia đình “Xác định cha cho con, cấp dưỡng” giữa nguyên đơn và bà Lê Thị D và bị đơn là ông Trịnh Vĩnh C.
Tình huống vụ án: Sau khi con được sinh ra, người mẹ khởi kiện yêu cầu xác định bị đơn là cha đẻ của con và yêu cầu bị đơn thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chưa thành niên. Tòa xác định bị cáo là cha ruột của cháu bé nên có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu bé.
Giải pháp pháp lý: Trong trường hợp này, Tòa án phải xác định thời hạn cấp dưỡng cho con chưa thành niên được tính kể từ khi con được sinh ra. Nội dung bản án:
“[4] Xét quy định tại các Điều 82 và 83; Khoản 24, mục 3, mục 107, 110 Luật hôn nhân và gia đình 2014, mục 281 BLDS 2005, nghĩa vụ cấp dưỡng của cha, mẹ đối với con chưa thành niên phát sinh từ thời điểm con được sinh ra. Cấp dưỡng là quyền và nghĩa vụ của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con. Cháu Lê Gia P là con chung của bà Lê Thị D và ông Trịnh Vĩnh C, nhưng từ khi cháu P sinh ngày 12/01/2014 đến ngày 12/10/2017 (ngày chia tiền cấp dưỡng) thì chỉ một mình bà D nhận nuôi. chăm sóc, nuôi dưỡng và chi trả các chi phí giáo dục của trẻ em. Như vậy, tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu buộc ông C phải bồi hoàn các khoản chi phí mà bà D đã chịu để nuôi cháu P kể từ ngày sinh cháu P là 12/01/2014 đến ngày 12/10/2017. D nộp đơn yêu cầu cấp dưỡng) là không phù hợp, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà D. Do đó, chấp nhận một phần quyền đòi của bà D, buộc ông C phải trả lại. cho bà D về số tiền 02 triệu đồng/tháng mà bà D đã chi để nuôi con từ ngày 12 tháng 01 năm 2014 đến ngày 12 tháng 10 năm 2017 như sau: 45 tháng x 1.000.000 đồng/tháng = 45.000.000 đồng.
7. Án lệ số 63/2023/AL về xem xét quyết định hành chính có liên quan đến hành vi hành chính bị khiếu kiện
Nguồn án lệ: Quyết định giám đốc thẩm số 04/2018/HC-GĐT ngày 23/10/2018 của Uỷ ban Thẩm phán Toà án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng về vụ án hành chính “Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính về việc cưỡng chế tháo dỡ công trình vi phạm trật tự đô thị và yêu cầu đòi bồi thường do hành vi cưỡng chế gây ra” giữa người khởi kiện là ông Lê Hữu T, bà Lê Thị Ngọc L với người bị kiện là Chủ tịch Uỷ ban nhân dân phường A.
Tình huống án lệ: Người khởi kiện khiếu kiện quyết định hành chính và hành vi hành chính có liên quan đến quyết định hành chính nhưng chỉ có hành vi hành chính còn thời hiệu khởi kiện.
Giải pháp pháp lý: Trường hợp này, Toà án phải giải quyết yêu cầu khởi kiện đối với hành vi hành chính và có quyền xem xét tính hợp pháp của quyết định hành chính có liên quan đến hành vi hành chính bị khiếu kiện.
Nội dung án lệ:
“[15] Do hành vi cưỡng chế xuất phát từ quyết định cưỡng chế và có mối liên hệ với nhau nên trong quá trình giải quyết yêu cầu khởi kiện đối với hành vi cưỡng chế, Hội đồng xét xử có quyền xem xét tính hợp pháp của quyết định cưỡng chế nêu trên và các quyết định hành chính khác có liên quan đến hành vi hành chính bị khiếu kiện mà không phụ thuộc các quyết định này còn hay hết thời hiệu khởi kiện nhằm đảm bảo vụ án được giải quyết toàn diện, triệt để, đúng pháp luật.”
Nội dung bài viết:
Bình luận