Tôi muốn kháng cáo có được không?

Chị Thu có thắc mắc:

-Bào chữa cho một vụ án hình sự cướp tài sản tốn khoản bao nhiêu tiền?
-Tòa tuyên án 7 năm tù cho 1 người đầu vụ giờ muốn kháng cáo có được không?
-Đối với vụ án cướp tài sản ở trên tôi có một số thông tin như sau: 3 người đi tới một đoạn đường vắng khi trong người đã có hơi rượu nảy sinh ý định cướp tài sản nhưng không dùng hung khí để đánh người bị cướp mà chỉ dùng tay để tát vào mặt người đó để đe dọa rồi cướp điện thoại di động trị giá 875.000 ngàn. Nhưng cướp không thành công vì người bị hại đã truy hô và có người đến. 3 người đã bỏ chạy và không gây thương tích cho người bị hại.
-Xin luật sư trả lời giúp tôi các câu hỏi trên sớm nhất có thể ạ!
Tôi xin chân thành cảm ơn.

Luật sư giải đáp:

Chào bạn!

           Mặc dù chưa lấy được tài sản, không dùng hung khí... chỉ có "dùng tay để tát vào mặt người đó để đe dọa rồi cướp điện thoại di động trị giá 875.000 ngàn" thì hành vi của ba người đó đã đủ dấu hiệu cấu thành tội cướp tài sản theo quy định tại Điều 133 BLHS. Tòa án xử về tội cướp tài sản theo quy định tại Điều 133 BLHS là không sai.
Nếu phạm tội thuộc khoản 1, Điều 133 BLHS thì khung hình phạt cũng từ 3 năm đến 10 năm tù. Trong trường hợp này, người chủ mưu, cầm đầu "người đầu vụ" bị xử 7 năm tù cũng không phải là cao (chưa kịch khung) do vậy cơ hội giảm hình phạt sẽ không nhiều. Tuy nhiên các bị cáo vẫn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Bạn có thể tham khảo quy định sau đây của BLHS

Điều 133. Tội cướp tài sản

1. Người nào dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Sử dụng vũ khí, phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác;

đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30%;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm:

a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60%;

b) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

c) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười tám năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc làm chết người;

b) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

c) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ một năm đến năm năm

Nội dung bài viết:

    Hãy để lại thông tin để được tư vấn

    comment-blank-solid Bình luận

    084.696.7979 19003330 Báo giá Chat Zalo