Báo cáo tài chính dùng để cung cấp thông tin về tình hình tài chính, tình hình kinh doanh và các luồng tiền của một doanh nghiệp, đáp ứng yêu cầu quản lý của chủ doanh nghiệp, cơ quan Nhà nước và nhu cầu hữu ích của những người sử dụng trong việc đưa ra các quyết định kinh tế. Để hiểu rõ hơn về vấn đề này, mời bạn đọc cùng theo dõi bài viết: Nguyên giá tài sản cố định theo thông tư 200/2014/TT-BTC.
Nguyên giá tài sản cố định theo thông tư 200/2014/TT-BTC
1. Báo cáo tài chính là gì?
Theo quy định tại Khoản 1, Điều 3, Luật Kế toán số 88/2015/QH13, báo cáo tài chính là hệ thống thông tin kinh tế, tài chính của đơn vị kế toán, được trình bày theo mẫu biểu quy định tại chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán.
Nói cách khác, báo cáo tài chính giúp cung cấp thông tin về tình hình tài chính, kinh doanh và các luồng tiền của doanh nghiệp. Theo pháp luật, tất cả các doanh nghiệp trực thuộc ngành, thành phần kinh tế đều phải lập và trình bày báo cáo tài chính (BCTC) năm. Đối với các công ty (tổng công ty) có đơn vị trực thuộc, ngoài BCTC năm thì phải BCTC tổng hợp (hợp nhất) vào cuối kỳ kế toán năm, dựa trên BCTC của đơn vị trực thuộc.
Ngoài ra, các doanh nghiệp trực thuộc nhà nước và doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán bên cạnh làm BCTC năm thì phải lập BCTC giữa niên độ (báo cáo quý -trừ quý IV).
Vai trò của báo cáo tài chính
Báo cáo tài chính có vai trò quan trọng, phản ánh tình hình tài chính, kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Những vai trò quan trọng của báo cáo tài chính có thể kể tới như:
- Cung cấp chỉ tiêu kinh tế, tài chính để nhận biết, kiểm tra toàn diện tình hình hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.
- Cung cấp số liệu, tài liệu phục vụ cho việc phân tích hoạt động kinh tế, tài chính, từ đó đánh giá tình hình kinh doanh, thực trạng tài chính, hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.
- Là cơ sở để phân tích, phát hiện tiềm năng về kinh tế, dự đoán tình hình, xu hướng hoạt động của doanh nghiệp để đưa ra các quyết định đúng đắn, có hiệu quả.
- Phục vụ cho việc lập kế hoạch sản xuất, kinh doanh, đầu tư cho phù hợp.
Báo cáo tài chính không chỉ đáp ứng nhu cầu quản lý, điều hành của các nhà quản lý doanh nghiệp mà còn đáp ứng thông tin của nhiều đối tượng khác. Đó là:
- Đối với chủ doanh nghiệp, Hội đồng quản trị, Ban giám đốc: Cung cấp thông tin để doanh nghiệp phân tích, đánh giá thực trạng, tiềm năng tài chính, khả năng thanh toán, tình hình và kết quả kinh doanh. Trên cơ sở đó, hoạch định chính sách quản lý, sử dụng tài sản và huy động vốn, dòng tiền cho hợp lý.
- Đối với các nhà đầu tư, chủ nợ, ngân hàng: Giúp đánh giá thực trạng, tiềm năng tài chính, các hoạt động kinh doanh, khả năng sinh lời, khả năng thanh toán và đánh giá rủi ro để có quyết định phù hợp.
- Đối với người lao động: Giúp người lao động hiểu được tình hình hoạt động, khả năng tiếp tục duy trì và phát triển trong tương lai, cũng như khả năng chi trả, thanh toán của doanh nghiệp để có quyết định việc làm phù hợp.
- Đối với cơ quản quản lý nhà nước: Thực hiện chức năng thanh tra, kiểm tra, giám sát việc tuân thủ luật pháp, từ đó đề ra các quyết định quản lý phù hợp.
2. Kỳ lập Báo cáo tài chính doanh nghiệp theo Thông tư 200
Kỳ lập Báo cáo tài chính doanh nghiệp được quy định tại Thông tư 200/2014/TT-BTC như sau:
- Kỳ lập Báo cáo tài chính năm: Các doanh nghiệp phải lập Báo cáo tài chính năm theo quy định của Luật kế toán.
- Kỳ lập Báo cáo tài chính giữa niên độ: Báo cáo tài chính giữa niên độ gồm Báo cáo tài chính quý (bao gồm cả quý IV) và Báo cáo tài chính bán niên.
- Kỳ lập Báo cáo tài chính khác
+ Các doanh nghiệp có thể lập Báo cáo tài chính theo kỳ kế toán khác (như tuần, tháng, 6 tháng, 9 tháng...) theo yêu cầu của pháp luật, của công ty mẹ hoặc của chủ sở hữu.
+ Đơn vị kế toán bị chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, chuyển đổi hình thức sở hữu, giải thể, chấm dứt hoạt động, phá sản phải lập Báo cáo tài chính tại thời điểm chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, chuyển đổi hình thức sở hữu, giải thể, chấm dứt hoạt động, phá sản.
- Xác định niên độ tổng hợp Báo cáo tài chính của cơ quan tài chính, thống kê:
Khi tổng hợp thống kê, trường hợp nhận được Báo cáo tài chính của các doanh nghiệp có năm tài chính khác năm dương lịch, cơ quan quản lý Nhà nước thực hiện theo nguyên tắc:
+ Trường hợp Báo cáo tài chính năm của doanh nghiệp bắt đầu từ 1/4, kết thúc vào 31/3 hàng năm thì số liệu trên Báo cáo tài chính được tổng hợp thống kê vào số liệu của năm trước liền kề;
+ Trường hợp Báo cáo tài chính năm của doanh nghiệp bắt đầu tư 1/7, kết thúc vào 30/6 hàng năm, Báo cáo tài chính dùng để tổng hợp thống kê là Báo cáo tài chính bán niên;
+ Trường hợp Báo cáo tài chính năm của doanh nghiệp bắt đầu từ 1/10, kết thúc vào 30/9 hàng năm thì số liệu trên Báo cáo tài chính được tổng hợp thống kê vào số liệu của năm sau.
3. Nguyên giá tài sản cố định theo thông tư 200/2014/TT-BTC
TT200, quy định: Những tài sản hữu hình (TSHH) có kết cấu độc lập, hoặc nhiều bộ phận tài sản (TS) riêng lẻ liên kết với nhau thành một hệ thống, để cùng thực hiện một hay một số chức năng nhất định, nếu thiếu bất kỳ một bộ phận nào trong đó thì cả hệ thống không thể hoạt động được, nếu thoả mãn đồng thời cả bốn tiêu chuẩn dưới đây, thì được coi là TSCĐ:
– Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng TS đó;
– Nguyên giá TS phải được xác định một cách tin cậy;
– Có thời gian sử dụng từ 1 năm trở lên;
– Có giá trị theo quy định hiện hành.
Trường hợp, một hệ thống gồm nhiều bộ phận TS riêng lẻ liên kết với nhau, trong đó mỗi bộ phận cấu thành có thời gian sử dụng khác nhau và nếu thiếu một bộ phận nào đó mà cả hệ thống vẫn thực hiện được chức năng hoạt động chính của nó nhưng do yêu cầu quản lý, sử dụng TSCĐ đòi hỏi phải quản lý riêng từng bộ phận TS và mỗi bộ phận TS đó nếu cùng thoả mãn đồng thời bốn tiêu chuẩn của TSCĐ thì được coi là một TSCĐ hữu hình độc lập.
Quy định, ghi nhận TSCĐ hữu hình theo TT200 quá cụ thể. IAS số 16 – Nhà xưởng, máy móc, thiết bị không quy định cụ thể cách thức xác định tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐ hữu hình mà đòi hỏi DN phải xét đoán khi áp dụng tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐ hữu hình, cho từng trường hợp cụ thể. Cụ thể, đối với tòa nhà cao ốc là một tổ hợp gồm nhiều TS, theo IAS 16 tất cả các bộ phận quan trọng của tòa nhà cao ốc như: Thang máy, hệ thống điều hòa tổng, hệ thống phòng cháy chữa cháy, các căn phòng của tòa nhà cao ốc phải được ghi nhận là các TSCĐ hữu hình riêng biệt. Các bộ phận quan trọng cấu thành tòa nhà phải ghi nhận là TSCĐ hữu hình, vì thỏa mãn các tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐ do cách thức thu hồi lợi ích kinh tế, thời gian sử dụng của từng bộ phận quan trọng cấu thành các TS đó là khác nhau. Ví dụ, thang máy, hệ thống điều hòa tổng và các căn phòng của tòa nhà, đều có thời gian sử dụng khác nhau. Như vậy, việc xét đoán khi áp dụng tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐ hữu hình đối với các bộ phận quan trọng cấu thành TS theo IAS 16 không phụ thuộc vào yêu cầu quản lý, sử dụng của DN hoặc không phụ thuộc vào việc có hay không có bộ phận đó thì cả hệ thống tòa nhà vẫn thực hiện được chức năng hoạt động chính của nó như TT200 đang quy định. Đồng thời, theo IAS 16 thì:
(i) DN có thể hợp nhất các TS riêng biệt không quan trọng như: Khuôn đúc, công cụ, khuôn dập và áp dụng các tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐ hữu hình vào giá trị hợp nhất đó;
(ii) DN phải xem xét, đánh giá toàn bộ chi phí cho TS tại thời điểm phát sinh, khi thoả mãn các tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐ hữu hình. Các chi phí này bao gồm các chi phí phát sinh ban đầu khi mua hoặc xây dựng TS và chi phí phát sinh sau đó, để bổ sung, thay thế 1 phần hoặc đi kèm với TS đó.
Do các quy định của TT200 không phù hợp với IAS 16 (các Đoạn 08, 09, 10, 13, 14) nên trên thực tế việc áp dụng các tiêu chuẩn để ghi nhận TSCĐ hữu hình theo 2 loại chi phí ban đầu và chi phí phát sinh sau ghi nhận ban đầu có sự khác nhau giữa các DN. Một ví dụ điển hình như đã nêu trên, thì thang máy của tòa nhà cao ốc theo IAS 16 được ghi nhận là TSCĐ hữu hình, khi thang máy bị hư hỏng thì thang máy được thay thế sẽ ghi tăng TSCĐ và ghi nhận thanh lý TSCĐ đối với thang máy cũ bị thay thế. Tuy nhiên, theo TT200 thì thang máy không đủ tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐ hữu hình vì thiếu nó thì chức năng chính của tòa nhà cao ốc không thể sử dụng được. Từ đó, trên thực tế cùng là thang máy của tòa nhà cao ốc, DN có thể xử lý theo 1 trong 2 cách sau:
(i) Không ghi nhận là một TSCĐ, giá trị thang máy là chi phí gián tiếp được phân bổ cho các đối tượng TSCĐ đủ tiêu chuẩn ghi nhận, hình thành qua đầu tư hoặc mua sắm. Khi thang máy bị hư hỏng phải thay thế thì chi phí thay thế và giá trị thang máy được thay thế sẽ được ghi nhận là chi phí sửa chữa lớn và DN ghi nhận toàn bộ vào chi phí SXKD hoặc phân bổ dần; hoặc
(ii) Ghi nhận toàn bộ tòa nhà cao ốc là một đối tượng TSCĐ, trong đó có thang máy và các bộ phận quan trọng khác, cấu thành tòa nhà như hệ thống điều hòa tổng. Khi thanh lý thang máy trong trường hợp này, có DN ghi tăng nguyên giá TSCĐ giá trị thang máy mới được thay thế. Đồng thời, ghi giảm phần thu hồi giá trị thang máy bị thay thế; có DN ghi nhận là chi phí sửa chữa lớn khi thang máy hư hỏng phải thay thế. Các bất hợp lý trên là do quy định của TT200. Theo đó, với các quy định này thì các bộ phận quan trọng cấu thành TS, sẽ không được ghi nhận là TSCĐ sẽ trái với thông lệ quốc tế. Từ đó, làm tăng khối lượng công việc cho các công ty nước ngoài khi phải lập BCTC cho công ty mẹ, để phục vụ cho hợp nhất BCTC, phải thực hiện theo CMKT quốc tế.
Trên đây là các nội dung giải đáp của chúng tôi về Nguyên giá tài sản cố định theo thông tư 200/2014/TT-BTC. Trong quá trình tìm hiểu, nếu như các bạn cần Công ty Luật ACC hướng dẫn các vấn đề pháp lý vui lòng liên hệ với chúng tôi để được giải đáp.
Nội dung bài viết:
Bình luận