Xác minh, thu thập chứng cứ trong tố tụng hành chính

Xác minh, thu thập chứng cứ trong tố tụng hành chính được pháp luật quy định như thế nào? Để trả lời cho câu hỏi này, mời các bạn cùng với chúng tôi tìm hiểu thêm thông tin dưới bài viết sau đây nhé.
chung-minh-va-chung-cut-trong-vu-an-hanh-chinh-300x236

1. Đặc điểm của chứng cứ trong vụ án hành chính

Theo quy định nêu trên, chứng cứ trong tố tụng hành chính phải đảm bảo 03 yếu tố:
- Chứng cứ phải có thật và liên quan đến vụ án hành chính:
Yêu cầu này có ý nghĩa đảm bảo tính chính xác của chứng cứ. Tính có thật của chứng cứ luôn được xác định đi cùng với tính liên quan đến vụ án hành chính đang được xác định đi cùng với tính liên quan đến vụ án hành chính đang được tòa án thụ lý giải quyết. Những tài liệu, sự thật có thật nhưng không liên quan đến vụ án thì không là chứng cứ. Tính liên quan đến vụ án hành chính được hiểu là những tài liệu, sự thật mà sự phát sinh, tồn tại hay mất đi của chúng có tác động làm ảnh hưởng đến nội dung của quyết định hành chính, hành vi hành chính bị kiện.
- Chứng cứ được Tòa án thu nhận theo thủ tục do Luật tố tụng hành chính quy định
Tòa án có thể có được chứng cứ của vụ án do đương sự giao nộp hoặc tự mình thu thập chứng cứ. Trong trường hợp cần thiết, Tòa án có thể ủy thác tiến hành xác minh thu thập chứng cứ. Việc giao nộp chứng cứ cho tòa án phải được lập biên bản giao nhận chứng cứ. Đặc biệt, chứng cứ do Tòa án tiến hành thu thập phải được thực hiện bằng các biện pháp do pháp luật quy định mới được coi là hợp pháp.
- Chứng cứ là căn cứ để xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự có căn cứ và hợp pháp hay không
Yêu cầu này khẳng định quyền xác minh chứng cứ thuộc về tòa án. Tòa án là người có thẩm quyền, trách nhiệm xem xét, đánh giá chứng cứ để tìm ra sự thật khách quan của vụ án đang được thụ lý giải quyết. Yêu cầu này cũng khẳng định tính chủ quan của việc xác định chứng cứ. Những thông tin, tài liệu có thật phải có giá trị chứng minh, làm cơ sở để xác định sự thật khách quan của vụ án.

2. Nguyên tắc Xác minh, thu thập chứng cứ trong tố tụng hành chính

-Thu thập chứng cứ là quyền và nghĩa vụ của đương sự
Khoản 1 Điều 9 Luật Tố tụng hành chính 2015 quy định: “Các đương sự có quyền và nghĩa vụ chủ động thu thập, giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án và chứng minh yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp”. Việc các đương sự phải cung cấp chứng cứ và chứng minh cho yêu cầu của mình là một trong những nguyên tắc xuất phát từ quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự đối với việc khởi kiện của mình (Điều 8 Luật tố tụng hành chính 2015). Các chứng cứ ban đầu này sẽ giúp cho việc thụ lý vụ án hành chính và giải quyết vụ việc hành chính được chính xác, kịp thời của Tòa án trong quá trình xây dựng hồ sơ vụ án hành chính.
Như vậy, khi khởi kiện vụ án hành chính, các đương sự trong vụ án hành chính phải tự mình thu thập, cung cấp chứng cứ, tài liệu cho Tòa án. Cách xác định chứng cứ được quy định cụ thể tại Điều 82 Luật Tố tụng hành chính 2015. 
-Trong trường hợp đương sự đã dùng mọi biện pháp nhưng không thu thập được thì yêu cầu Tòa án thu thập chứng cứ
Trên thực tế, khi thu thập chứng cứ từ các cá nhân, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, đương sự không được cung cấp hoặc được cung cấp không đầy đủ các chứng cứ cần thiết. Điều này đòi hỏi phải có sự can thiệp của Tòa án là cơ quan thay mặt Nhà nước giải quyết tranh chấp, giúp đương sự trong việc thu thập chứng cứ đang lưu giữ tại các cơ quan, tổ chức mà đương sự không thể thu thập được. Điểm e, Khoản 1 Điều 84 Luật Tố tụng hành chính đã quy định đương sự có thể dùng biện pháp “e) Yêu cầu Tòa án thu thập tài liệu, chứng cứ nếu đương sự không thể thu thập tài liệu, chứng cứ;” để thu thập chứng cứ trong vụ án hành chính. Tòa án chỉ tiến hành thu thập chứng cứ khi đương sự đã áp dụng mọi biện pháp nhưng vẫn không tự thu thập được và có yêu cầu Tòa án tiến hành thu thập. Việc yêu cầu Toà án thu thập, tài liệu chứng cứ sẽ được thực hiện trong phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đối thoại tại Toà.
Thẩm phán được tự mình tiến hành một hoặc một số biện pháp sau để thu thập chứng cứ: lấy lời khai của đương sự (Điều 85); lấy lời khai người làm chứng khi xét thấy cần thiết (Điều 86); đối chất khi xét thấy có sự mâu thuẫn trong lời khai của các đương sự, người làm chứng (Điều 87); xem xét thẩm định tại chỗ (Điều 88); uỷ thác thu thập chứng cứ, xác minh tài liệu, chứng cứ (Điều 92); … Luật còn quy định điều kiện để Thẩm phán được tiến hành một hoặc một số biện pháp thu thập chứng cứ khi đương sự không thể tự mình thu thập được và có yêu cầu như: lấy lời khai người làm chứng; đối chất; trưng cầu giám định; định giá tài sản, thẩm định giá tài sản; yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp chứng cứ.
Ngoài đương sự, Viện kiểm sát đóng vai trò quan trọng trong việc thu thập chứng cứ trong vụ án hành chính. Điều 22, Thông tư liên tịch 03/2016/TTLT-VKSNDTC-TANDTC quy định việc phối hợp giữa viện kiểm sát nhân dân và tòa án nhân dân trong việc thi hành một số quy định của Luật Tố tụng hành chính đã quy định về việc, nếu Kiểm sát viên xét thấy cần xác minh, thu thập thêm chứng cứ để bảo đảm cho việc giải quyết vụ án kịp thời, đúng pháp luật thì Kiểm sát viên gửi văn bản yêu cầu Tòa án xác minh, thu thập chứng cứ ở trong các giai đoạn: trong quá trình giải quyết vụ án, trước khi mở phiên Toà và tại phiên Toà. Trong nhiều trường hợp, sự phát hiện những bất thường trong thu thấp chứng cứ của Viện kiểm sát đã giúp cho quyền của các đương sự được đảm bảo. Xem xét ví dụ sau để thấy rõ vai trò của Viện Kiểm sát trong nhiệm vụ xác minh, thu thập tài liệu chứng cứ:

Nội dung bài viết:

    Hãy để lại thông tin để được tư vấn

    comment-blank-solid Bình luận

    084.696.7979 19003330 Báo giá Chat Zalo