Quy định về xác định tuổi trong tố tụng hình sự

Việc xác định tuổi trong tố tụng hình sự được quy định như thế nào? Trong quá trình giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm, kiến nghị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự, thì việc xác định tuổi có ý nghĩa quan trọng để xác định tội danh, định khung hình phạt, quyết định hình phạt và áp dụng các biện pháp xử lý hình sự khác đối với người phạm tội. Theo đó, bài viết dưới đây của Công ty Luật ACC sẽ chia sẻ đến bạn đọc một số quy định về việc xác định độ tuổi trong tố tụng hình sự.

Lawyer Having Meeting And Consoling Solution To His Clients Prov

1. Quy định về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự

Căn cứ Điều 12 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi bởi khoản 3 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017 quy định như sau:

"Điều 12. Tuổi chịu trách nhiệm hình sự

1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác.

2. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và 304 của Bộ luật này.”

Như vậy, theo quy định thì 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác.

2. Xác định tuổi của người bị buộc tội, người bị hại là người dưới 18 tuổi

Điều 417 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 có quy định:

"Điều 417. Xác định tuổi của người bị buộc tội, người bị hại là người dưới 18 tuổi

1. Việc xác định tuổi của người bị buộc tội, người bị hại là người dưới 18 tuổi do cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thực hiện theo quy định của pháp luật.

2. Trường hợp đã áp dụng các biện pháp hợp pháp mà vẫn không xác định được chính xác thì ngày, tháng, năm sinh của họ được xác định:

a) Trường hợp xác định được tháng nhưng không xác định được ngày thì lấy ngày cuối cùng của tháng đó làm ngày sinh.

b) Trường hợp xác định được quý nhưng không xác định được ngày, tháng thì lấy ngày cuối cùng của tháng cuối cùng trong quý đó làm ngày, tháng sinh.

c) Trường hợp xác định được nửa của năm nhưng không xác định được ngày, tháng thì lấy ngày cuối cùng của tháng cuối cùng trong nửa năm đó làm ngày, tháng sinh.

d) Trường hợp xác định được năm nhưng không xác định được ngày, tháng thì lấy ngày cuối cùng của tháng cuối cùng trong năm đó làm ngày, tháng sinh.

3. Trường hợp không xác định được năm sinh thì phải tiến hành giám định để xác định tuổi."

Theo đó, trong trường hợp biết rõ ngày tháng năm sinh của người bị buộc tội thì tuổi chịu trách nhiệm hình sự của người đó sẽ được tính kể từ ngày sinh của người đó đến ngày người đó thực hiện hành vi phạm tội.

3. Phối hợp trong việc xác định tuổi của người bị buộc tội, người bị hại dưới 18 tuổi

Việc xác định tuổi của người bị buộc tội, người bị hại dưới 18 tuổi căn cứ vào một trong các giấy tờ, tài liệu sau:

  • Giấy chứng sinh;
  • Giấy khai sinh;
  • Chứng minh nhân dân;
  • Thẻ căn cước công dân;
  • Sổ hộ khẩu;
  • Hộ chiếu.

Trường hợp các giấy tờ, tài liệu nêu tại khoản 1 Điều này có mâu thuẫn, không rõ ràng hoặc không có giấy tờ, tài liệu này thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải phối hợp với gia đình, người đại diện, người thân thích, nhà trường, Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh hoặc tổ chức, cá nhân khác có liên quan nơi người dưới 18 tuổi học tập, lao động, sinh hoạt trong việc hỏi, lấy lời khai, xác minh làm rõ mâu thuẫn hoặc tìm các giấy tờ, tài liệu khác có giá trị chứng minh về tuổi của người đó.

Trường hợp đã áp dụng các biện pháp hợp pháp nhưng chỉ xác định được khoảng thời gian tháng, quý, nửa đầu hoặc nửa cuối của năm hoặc năm sinh thì tùy từng trường hợp cụ thể cần căn cứ khoản 2 Điều 417 Bộ luật Tố tụng hình sự để xác định tuổi của họ.

Trường hợp kết quả giám định tuổi chỉ xác định được khoảng độ tuổi của người bị buộc tội, người bị hại thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng lấy tuổi thấp nhất trong khoảng độ tuổi đã xác định được để xác định tuổi của họ.

4. Xác định tuổi của người phạm tội khi xem xét áp dụng các biện pháp xử lý hình sự

Bộ luật Hình sự năm 2015 có một số quy định về độ tuổi nhất định của người phạm tội được coi là một trong những tình tiết để xem xét áp dụng các quy định của BLHS về miễn TNHS, giảm nhẹ TNHS, giảm nhẹ hình phạt hoặc không áp dụng hình phạt nghiêm khắc nhất.

Đối với các trường hợp đã áp dụng các biện pháp cần thiết nhưng không xác định được chính xác tuổi của người phạm tội bị nghi ngờ là người dưới 18 tuổi thì các cơ quan tiến hành tố tụng phải căn cứ vào nguyên tắc suy đoán vô tội (và cũng phù hợp với quy định tại Điều 417 BLTTHS năm 2015) để xác định tuổi.

Đối với các trường hợp đã áp dụng các biện pháp hợp pháp nhưng không xác định được chính xác tuổi của người phạm tội bị nghi ngờ là người đủ 70 tuổi trở lên (là điều kiện áp dụng các tình tiết giảm nhẹ TNHS) hoặc đủ 75 tuổi trở lên (là điều kiện để không áp dụng hình phạt tử hình), thì việc xác định tuổi của người phạm tội phải theo nguyên tắc suy đoán có lợi cho người phạm tội.

Trên đây, Công ty Luật ACC - Đồng hành pháp lý cùng bạn đã chia sẻ một số thông tin về xác định tuổi trong tố tụng hình sự. Đối với sự tin cậy của khách hàng, Luật ACC sẽ luôn cố gắng hơn nữa để khách hàng có được sự hài lòng nhất. Nếu có thắc mắc gì thêm về các vấn đề liên quan hay những vấn đề khác quý khách hàng có thể liên hệ trực tiếp với chúng tôi. Công ty Luật ACC luôn sẵn sàng hỗ trợ quý khách hàng!

Nội dung bài viết:

    Hãy để lại thông tin để được tư vấn

    comment-blank-solid Bình luận

    084.696.7979 19003330 Báo giá Chat Zalo