Tội phạm hiếp dâm là gì theo quy định của pháp luật?

logo accACC
Tiên Ngô

Hiếp dâm là hành vi nguy hiểm cho xã hội vì thế pháp luật cần phải có mức xử lý phạt thích đáng đối với tội phạm hiếp dâm và răn đe xã hội. Vậy tội phạm hiếp dâm là gì? Mời quý khách hàng cùng theo dõi bài viết dưới đây của công ty Luật ACC để biết thông tin cụ thể về các thắc mắc trên.

image 107
Tội phạm hiếp dâm

1. Tội hiếp dâm theo quy định luật hình sự trước đây

Trước khi có Bộ luật hình sự đầu tiên (Bộ luật hình sự năm 1985), tội hiếp dâm được quy định trong Sắc luật số 03 năm 1978. Trong Bộ luật hình sự năm 1985 và Bộ luật hình sự năm 1999, tội hiếp dâm đều được quy định tại Chương “Các tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm của con người”. Theo đó, hiếp dâm đòi hỏi các dấu hiệu sau:

1) Chủ thể của hành vi hiếp dâm chỉ có thể là nam giới;

2) Chủ thể có hành vi giao cấu với người nữ trái với ý muốn của họ bằng một trong các thủ đoạn: dùng vũ lực đè bẹp Sử kháng cự của người phụ nữ chống lại việc giao cấu; uy hiếp tinh thần bằng việc đe dọa gây thiệt hại để làm tê liệt ý chí kháng cự của người phụ nữ; lợi dụng người phụ nữ đang trong tình trạng không có khả năng kháng cự hoặc không có khả năng biểu lộ Ý chí đúng đắn (ốm đau, say rượu, bị bệnh tâm thần…)

Nạn nhân của tội hiếp dâm là nữ giới. Căn cứ vào độ tuổi của nạn nhân Luật hình sự Việt Nam phân biệt hai trường hợp hiếp dâm và quy định thành hai tội danh khác nhau. Đó là tội hiếp dâm và tội hiếp dâm trẻ em. Hiếp dâm trẻ em là trường hợp hiếp dâm mà nạn nhân là em gái dưới 16 tuổi. Ngoài r4, tội hiếp dâm trẻ em còn bao gồm tất cả những hành vi giao cấu với em gái dưới 13 tuổi (kể cả trường hợp được sự đồng ý của họ vì đây cũng được coi là trường hợp nạn nhân không có khả năng biểu lộ ý chí đúng đắn). Tội hiếp dâm trẻ em được quy định thành tội danh riêng kể từ khi Bộ luật hình sự năm 1985 được sửa đổi, bổ sung lần thứ tư năm 1997. Hình phạt được quy định cho tội hiếp dâm có mức cao nhất là tử hình.

Xem thêm về Quy định hình phạt tội hiếp dâm trong pháp luật tại https://accgroup.vn/hiep-dam/

2. Tội hiếp dâm theo quy định luật hình sự hiện nay

Tội hiếp dâm hiện nay được quy định tại điều 141 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:

Tội hiếp dâm được quy định là hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoậc dùng thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với nạn nhân trái ý muốn của họ.

hành vi khách quan cùa tội hiếp dâm chỉ giới hạn là hành vi giao cấu. BLHS năm 2015 đã mở rộng phạm vi hành vi khách quan của tội phạm này. Theo đó, các hành vi quan hệ tình dục khác cũng thuộc hành vi khách quan của tội hiếp dâm. Đó là “hành vi của những người cùng giới tính hay khác giới tính… đưa bộ phận sinh dục nam xâm nhập vào miệng, hậu môn người khác; dùng bộ phận khác trên cơ thể…, dụng cụ tình dục xâm nhập vào bộ phận sinh dục nữ, hậu môn của người khác”. Dấu hiệu hành vi khách quan của tội hiếp dâm chỉ đòi hỏi hành vi giao cấu hoặc hành vi quan hệ tình dục khác được thực hiện mà không đòi hỏi hành vi này phải kết thúc về mặt sinh lí.

Hành vi giao cấu hoặc hành vi quan hệ tình dục khác được thực hiện trái với ý muốn của nạn nhân: Nạn nhân không chấp nhận hoặc không có ý muốn của nạn nhân vì họ đang trong tình trạng không thể biểu lộ được ý chí (Theo Nghị quyết số 06/2019/NQ-HĐTP ngày 01/10/2019 của Hội đồng thẩm phán TANDTC về Hướng dẫn áp dụng một số quy định tại các điều 141, 142, 143, 144, 145, 146, 147 của BLHS…, dấu hiệu “trái với ý muốn của nạn nhân” được giải thích là “…người bị hại không đồng ý, phó mặc hoặc không có khả năng biểu lộ ý chí của mình đối với hành vi quan hệ tinh dục cố ý của người phạm tội”).

Các hành vi trên đây được thực hiện bằng một trong những thủ đoạn sau:

– Thủ đoạn dùng vũ lực: Đây là thủ đoạn dùng sức mạnh vật chất đè bẹp sự kháng cự của nạn nhân chống lại hành vi của người phạm tội như xô ngã, vật, giữ, bóp cổ nạn nhân…

+ Dấu hiệu mặt chủ quan cùa tội hiếm dâm:

Lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý. Người phạm tội biết hành vi giao cấu hoặc hành vi quan hệ tình dục của mình là trái ý muốn nạn nhân nhưng vẫn mong muốn thực hiện hành vi đó bằng một trong những thù đoạn nói trên.

+ Hình phạt đối với tội hiếp dâm:

Điều luật quy định 03 khung hình phạt chính (trong đó khung hình phạt cơ bản gồm 02 loại tương ứng với 2 độ tuổi của nạn nhân) và 01 khung hình phạt bổ sung.

Khung hình phạt cơ bản có mức phạt tù từ 02 năm đến 07 năm được quy định cho trường hợp nạn nhân đủ 18 tuổi trở lên; Đối với trường hợp nạn nhân từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, khung hình phạt cơ bản có mức phạt từ 05 năm tù đến 10 năm tù.

Khung hình phạt tăng nặng thứ nhất có mức phạt tù từ 07 năm đến 15 năm được quy định cho trường hợp phạm tội có một trong các tình tiết định khung hình phạt tăng nặng sau:

– (Phạm tội) có tổ chức: Đây là trường hợp đồng phạm hiếp dâm ở hình thức có tổ chức.

– (Phạm tội) đổi với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh: Đây là trường hợp phạm tội mà giữa người phạm tội và nạn nhân có quan hệ đặc biệt với nhau. Trong đó, người phạm tội là người có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh cho nạn nhân. Trách nhiệm này có thể phát sinh từ những cơ sở pháp lí khác nhau.

– Nhiều người hiếp một người: Đây là trường họp đồng phạm hiếp dâm trong đó có nhiều người có hành vi giao cấu hoặc hành vi quan hệ tình dục khác với cùng một nạn nhân. Hiếp dâm có tổ

Khung hình phạt tăng nặng thứ hai có mức phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân được quy định cho trường hợp phạm tội có một trong các tình tiết định khung hình phạt tăng nặng sau:

– Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khoẻ hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỉ lệ tổn thương cơ thể là 61% trở lên.

– (Người phạm tội) biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội (thực hiện hành vi giao cấu hoặc hành vỉ quan hệ tình dục khác).

– (Phạm tội) làm nạn nhân chết hoặc tự sát: Trường hợp hiếp dâm làm nạn nhân chết là trường hợp hiếp dâm đã gây ra hậu quả nạn nhân chết và lỗi của người phạm tội đối với hậu quà này là lỗi vô ý. Nêu người phạm tội có lỗi cố ý đối với hậu quả chết người thì hành vi phạm tội của họ cấu thành tội giết người (Điều 123 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017) và tội hiếp dâm. Trường hợp hiếp dâm làm nạn nhân tự sát là trường hợp nạn nhân do bị hiếp dâm nên đã cỏ hành vi tự tước đoạt tính mạng của mình. Giữa việc bị hiếp dâm và việc tự sát có mối quan hệ nhân quả với nhau.

Khung hình phạt bổ sung được quy định (có thể được áp dụng) là: cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

3. Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi

Theo quy định tại điều 142 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 về tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi như sau:

Tội này gồm 02 trường hợp. Đó là trường hợp nạn nhân từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi và trường hợp nạn nhân chưa đủ 13 tuổi.

– Trong trường họp nạn nhân từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tội có một trong các tình tiết định khung hình phạt tăng nặng sau:

– (Phạm tội) có tổ chức;

– Nhiều người hỉếp một người;

– (Phạm tội) đối với người dưới 10 tuổi;

– (Phạm tội) gây thương tích, gây tổn hại chọ sức khoẻ hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỉ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên;

– (Người phạm tội) biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội.

– (Phạm tội) làm nạn nhân chết hoặc tự sạt.

Khung hình phạt bổ sung được quy định (có thể được áp dụng) là: cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Để áp dụng đúng, thống nhất một số quy định tại các điều 141, 142, 143, 144, 145, 146, 147 của Bộ luật Hình sự và việc xét xử vụ án xâm hại tình dục người dưới 18 tuổi;

Sau khi có ý kiến của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ trưởng Bộ Tư pháp,

Điều 3. Về một số tình tiết định tội

1. Giao cấu quy định tại khoản 1 Điều 141, khoản 1 Điều 142, khoản 1 Điều 143, khoản 1 Điều 144 và khoản 1 Điều 145 của Bộ luật Hình sự là hành vi xâm nhập của bộ phận sinh dục nam vào bộ phận sinh dục nữ, với bất kỳ mức độ xâm nhập nào.

Giao cấu với người dưới 10 tuổi được xác định là đã thực hiện không phụ thuộc vào việc đã xâm nhập hay chưa xâm nhập.

2. Hành vi quan hệ tình dục khác quy định tại khoản 1 Điều 141, khoản 1 Điều 142, khoản 1 Điều 143, khoản 1 Điều 144 và khoản 1 Điều 145 của Bộ luật Hình sự là hành vi của những người cùng giới tính hay khác giới tính sử dụng bộ phận sinh dục nam, bộ phận khác trên cơ thể (ví dụ: ngón tay, ngón chân, lưỡi…), dụng cụ tình dục xâm nhập vào bộ phận sinh dục nữ, miệng, hậu môn của người khác với bất kỳ mức độ xâm nhập nào, bao gồm một trong các hành vi sau đây:

a) Đưa bộ phận sinh dục nam xâm nhập vào miệng, hậu môn của người khác;

b) Dùng bộ phận khác trên cơ thể (ví dụ: ngón tay, ngón chân, lưỡi…), dụng cụ tình dục xâm nhập vào bộ phận sinh dục nữ, hậu môn của người khác.

7. Lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân quy định tại khoản 1 Điều 141 và khoản 1 Điều 142 của Bộ luật Hình sự là việc người phạm tội lợi dụng tình trạng người bị hại lâm vào một trong những hoàn cảnh sau đây để giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác:

a) Ngưòi bị hại không thể chống cự được (ví dụ: người bị hại bị tai nạn, bị ngất, bị trói, bị khuyết tật… dẫn đến không thể chống cự được);

b) Người bị hại bị hạn chế hoặc bị mất khả năng nhận thức, khả năng điều khiển hành vi (ví dụ: người bị hại bị say rượu, bia, thuốc ngủ, thuốc gây mê, ma túy, thuốc an thần, thuốc kích thích, các chất kích thích khác, bị bệnh tâm thần hoặc bị bệnh khác… dẫn đến hạn chế hoặc mất khả năng nhận thức, khả năng điều khiển hành vi).

8. Thủ đoạn khác quy định tại khoản 1 Điều 141 và khoản 1 Điều 142 của Bộ luật Hình sự bao gồm các thủ đoạn như đầu độc nạn nhân; cho nạn nhân uống thuốc ngủ, thuốc gây mê, uống rượu, bia hoặc các chất kích thích mạnh khác làm nạn nhân lâm vào tình trạng mất khả năng nhận thức, khả năng điều khiển hành vi để giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác; hứa hẹn cho tốt nghiệp, cho đi học, đi thi đấu, đi biểu diễn ở nước ngoài để giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác.

9. Trái với ý muốn của nạn nhân quy định tại khoản 1 Điều 141 và điểm a khoản 1 Điều 142 của Bộ luật Hình sự là người bị hại không đồng ý, phó mặc hoặc không có khả năng biểu lộ ý chí của mình đối với hành vi quan hệ tình dục cố ý của người phạm tội.

Xem thêm về Quy định về tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi tại https://accgroup.vn/toi-hiep-dam-tre-em/

4. Về một số tình tiết định khung


1. Có tính chất loạn luân quy định tại điểm e khoản 2 Điều 141, điểm a khoản 2 Điều 142, điểm d khoản 2 Điều 143 và điểm a khoản 2 Điều 144 của Bộ luật Hình sự là một trong các trường hợp sau đây:

a) Phạm tội đối với người cùng dòng máu về trực hệ, với anh chị em cùng cha mẹ, anh chị em cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha;

b) Phạm tội đối với cô ruột, dì ruột, chú ruột, bác ruột, cậu ruột, cháu ruột;

c) Phạm tội đối với con nuôi, bố nuôi, mẹ nuôi;

d) Phạm tội đối với con riêng của vợ, con riêng của chồng, bố dượng, mẹ kế;

đ) Phạm tội đối với con dâu, bố chồng, mẹ vợ, con rể.

2. Phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm c khoản 2 Điều 141, điểm đ khoản 2 Điều 142, điểm b khoản 2 Điều 143, điểm d khoản 2 Điều 144, điểm a khoản 2 Điều 145, điểm b khoản 2 Điều 146 và điểm b khoản 2 Điều 147 của Bộ luật Hình sự là trường hợp người phạm tội đã thực hiện hành vi phạm tội từ 02 lần trở lên nhưng chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự và chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự.

3. Nhiều người hiếp một người quy định tại điểm c khoản 2 Điều 141 và điểm b khoản 3 Điều 142 của Bộ luật Hình sự là trường hợp 02 người trở lên hiếp dâm 01 người. Cũng được coi là “nhiều người hiếp một người”, nếu có từ 02 người trở lên cùng bàn bạc, thống nhất sẽ thay nhau hiếp dâm 01 người, nhưng vì lý do ngoài ý muốn mới có 01 người thực hiện được hành vi hiếp dâm.

Không coi là “nhiều người hiếp một người”, nếu có từ 02 người trở lên câu kết với nhau tổ chức, giúp sức cho 01 người hiếp dâm (trường hợp này là đồng phạm).

5. Nguyên tắc xử lý đối với người phạm tội xâm hại tình dục


1. Tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của pháp luật hình sự và tố tụng hình sự.

2. Áp dụng hình phạt nghiêm khắc đối với các hành vi vi phạm luân thường, đạo đức; lợi dụng chức vụ, quyền hạn; lợi dụng nghề nghiệp, công việc; xâm hại người dưới 13 tuổi.

3. Áp dụng các hình phạt bổ sung cao nhất theo quy định của Bộ luật Hình sự và các đạo luật khác có liên quan. Trong trường hợp cần thiết có thể cấm đảm nhiệm chức vụ, hành nghề liên quan đến người dưới 16 tuổi.

6. Tổ chức xét xử vụ án xâm hại tình dục có bị hại là người dưới 18 tuổi


1. Thời hạn xét xử vụ án xâm hại tình dục có bị hại là người dưới 18 tuổi được thực hiện như sau:

a) Áp dụng thủ tục rút gọn đối với các trường hợp đủ điều kiện theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự;

b) Đưa các vụ án khác ra xét xử trong thời hạn không quá 1/2 thời hạn pháp luật cho phép đối với các trường hợp tương ứng.

2. Khi xét xử vụ án xâm hại tình dục người dưới 18 tuổi, Tòa án phải thực hiện:

a) Xét xử kín, tuyên án công khai theo đúng quy định tại Điều 327 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Khi tuyên án, Hội đồng xét xử chỉ đọc phần quyết định trong bản án;

b) Phân công Thẩm phán có kiến thức hoặc kinh nghiệm xét xử các vụ án liên quan đến người dưới 18 tuổi;

c) Khi tham gia xét xử, Thẩm phán mặc trang phục làm việc hành chính của Tòa án nhân dân, không mặc áo choàng;

d) Xử án tại Phòng xét xử thân thiện theo đúng quy định tại Thông tư số 01/2017/TT-TANDTC ngày 28 tháng 7 năm 2017 và Thông tư số 02/2018/TT-TANDTC ngày 21 tháng 9 năm 2018 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao;

đ) Có sự tham gia của người đại diện, người giám hộ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dưới 18 tuổi.

3. Khi xét xử vụ án xâm hại tình dục người dưới 18 tuổi, căn cứ vào điều kiện và hoàn cảnh cụ thể, Tòa án cần thực hiện:

a) Hạn chế triệu tập bị hại là người dưới 18 tuổi đến phiên tòa nếu vẫn giải quyết được vụ án bằng việc áp dụng các biện pháp thay thế khác (ví dụ: sử dụng lời khai của họ ở giai đoạn điều tra, truy tố; mời họ đến Tòa án hoặc địa điểm hợp pháp khác để lấy lời khai trước bằng văn bản, bằng ghi âm, ghi hình có âm thanh…).

b) Trường hợp phải triệu tập bị hại là người dưới 18 tuổi đến phiên tòa, Tòa án cần tạo điều kiện để họ làm quen, tiếp xúc với môi trường Tòa án, với quy trình và thủ tục xét xử; bố trí cho họ ngồi ở phòng cách ly và sử dụng các thiết bị điện tử (ví dụ: micro, loa, ti vi, camera…) để không làm ảnh hưởng đến tâm lý của họ khi họ khai báo, tham gia tố tụng tại phiên tòa; trường hợp không bố trí được phòng cách ly thì để họ ngồi ở phòng xử án nhưng phải có màn che ngăn cách với khu vực của bị cáo và khoảng cách giữa Hội đồng xét xử với người bị hại là người dưới 18 tuổi không quá 03 mét.

c) Câu hỏi đối với bị hại là người dưới 18 tuổi phải phù hợp với lứa tuổi, mức độ phát triển, trình độ văn hóa, hiểu biết của họ. Câu hỏi cần ngắn gọn, rõ ràng, đơn giản, dễ hiểu; không hỏi nhiều vấn đề cùng một lúc; chỉ đặt câu hỏi làm rõ tình tiết vụ án; không đặt câu hỏi chỉ để tranh luận. Câu hỏi đối với bị hại dưới 10 tuổi không quá 10 từ và thời gian hỏi không liên tục quá 01 giờ.

d) Sử dụng sơ đồ hoặc mô hình cơ thể có đánh số thứ tự các bộ phận để người bị hại là người dưới 18 tuổi xác định các bộ phận bị xâm hại.

đ) Khi bị cáo đề nghị được hỏi bị hại là người dưới 18 tuổi thì phải chuyển câu hỏi cho người bào chữa hoặc Hội đồng xét xử hỏi.

4. Khi xét xử vụ án xâm hại tình dục người dưới 18 tuổi, Tòa án không được:

a) Yêu cầu bị hại là người dưới 18 tuổi tường thuật lại chi tiết quá trình phạm tội;

b) Sử dụng câu hỏi có tính chất công kích, đe dọa, gây xấu hổ, xúc phạm bị hại;

c) Đối chất giữa bị hại với người phạm tội tại phiên tòa;

d) Xác định bộ phận bị xâm hại bằng cách để bị hại là người dưới 18 tuổi chỉ trực tiếp vào bộ phận cơ thể của mình hoặc của người khác;

đ) Để bị cáo hỏi trực tiếp bị hại là người dưới 18 tuổi;

e) Buộc bị hại là người dưới 18 tuổi phải đứng khi tham gia tố tụng tại phiên tòa;

g) Công khai bản án, quyết định của Tòa án liên quan đến vụ án trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án.

Trên đây là toàn bộ nội dung trả lời cho câu hỏi tội phạm hiếp dâm mà chúng tôi cung cấp đến cho quý khách hàng. Nếu có bất kỳ vấn đề vướng mắc cần giải đáp cụ thể, hãy liên hệ với Công ty luật ACC để được hỗ trợ:

Hotline: 1900.3330
Zalo: 0846967979
Gmail: info@accgroup.vn
Website: accgroup.vn

Share on facebook
Share on twitter
Share on linkedin
Share on pinterest
Share on email

Bài viết liên quan

Liên Hệ Với Chúng Tôi

Vui lòng để lại thông tin liên hệ, ACC sẽ gọi lại ngay cho bạn

Viết một bình luận