Tội cố ý gây thương tích khoản 4 Điều 134 BLHS quy định như thế nào? Khung hình phạt nào cho tội phạm vi phạm tội cố ý gây thương tích khoản 4 Điều 134 BLHS? Nếu bạn đang quan tâm đến tội cố ý gây thương tích khoản 4 Điều 134 BLHS hãy theo dõi bài viết sau đây.

Tội cố ý gây thương tích khoản 4
1. Tội cố ý gây thương tích
Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác là hành vi của một người cố ý tấn công (hay còn được gọi là đánh người) làm cho người khác bị thương hoặc tổn hại đến sức khoẻ của họ. Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (Bộ luật Hình sự) quy định về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (sau đây gọi chung là “tội cố ý gây thương tích”) theo đó, cá nhân có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt đến độ tuổi quy định tại Điều 12 Bộ luật Hình sự mà có hành vi vi phạm pháp luật về tội cố ý gây thương tích thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích theo quy định.
2. Khoản 4 Điều 134 theo BLHS 2015
Tại khoản 4, Điều 134 Bộ luật Hình sự quy định:
“4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 14 năm:
- a) Làm chết người;
- b) Gây thương tích làm biến dạng vùng mặt của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
- c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;
- d) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61 % trở lên nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này;
đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều 134 Bộ Luật hình sự”
Như vậy, với hậu quả làm chết người do cố ý gây thương tích thì đó là một trong những quy định thuộc khoản 4 của Điều luật và khung hình phạt mức cao nhất là 14 năm tù.
Với những tình tiết được quy định tại các điểm b, c, d và đ của khoản này cũng bị áp dụng mức phạt cao nhất là 14 năm tù, cụ thể:
Khoản 4, Điều 134 BLHS cũng quy định: Gây thương tích làm biến dạng vùng mặt mà tỷ lệ thương tật từ 61% trờ lên đối với 01 người hoặc gây thương tích cho 02 người trở lên mà tỷ lệ của mỗi người từ 61% trở lên hoặc gây cho 1 người mà tỷ lệ thương tích từ 61% trở lên nhưng thuộc các điểm a đến đểm k của khoản 1 Điều 134 BLHS, còn cũng vào các trường hợp như trên nhưng gây thương tật cho 02 người trở lên thì cũng thuộc vi phạm vào khoản này.
3. Mức hình phạt
Với hậu quả làm chết người do cố ý gây thương tích thì đó là một trong những quy định thuộc khoản 4 của Điều luật và khung hình phạt mức cao nhất là 14 năm tù.
Với những tình tiết được quy định tại các điểm b, c, d và đ của khoản này cũng bị áp dụng mức phạt cao nhất là 14 năm tù, cụ thể:
Gây thương tích làm biến dạng vùng mặt mà tỷ lệ thương tật từ 61% trờ lên đối với 01 người hoặc gây thương tích cho 02 người trở lên mà tỷ lệ của mỗi người từ 61% trở lên hoặc gây cho 1 người mà tỷ lệ thương tích từ 61% trở lên nhưng thuộc các điểm a đến đểm k của khoản 1 Điều 134 BLHS, còn cũng vào các trường hợp như trên nhưng gây thương tật cho 02 người trở lên thì cũng thuộc vi phạm vào khoản này.
3. Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định
Bên cạnh định khung hình phạt của từng tội danh, khi xét xử vụ án Hình sự, Thẩm phán sẽ xem xét tới những căn cứ làm giảm hình phạt cho bị cáo theo quy định của pháp luật. Đó dựa trên chính sách khoan hồng và nhân đạo của nhà nước và Luật pháp.
Theo quy định của Bộ Luật Hình sự, các tình tiết giảm nhẹ luật định được quy định tại điều 51 BLHS:
- Người phạm tội đã ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác hại của tội phạm;
- Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả;
- Phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng;
- Phạm tội trong trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết;
- Phạm tội trong trường hợp vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội;
- Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra;
- Phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không phải do mình tự gây ra;
- Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn;
- Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng;
- Phạm tội vì bị người khác đe dọa hoặc cưỡng bức;
- Phạm tội trong trường hợp bị hạn chế khả năng nhận thức mà không phải do lỗi của mình gây ra;
- Phạm tội do lạc hậu;
- Người phạm tội là phụ nữ có thai;
- Người phạm tội là người đủ 70 tuổi trở lên;
- Người phạm tội là người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng;
- Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình;
- Người phạm tội tự thú;
- Người phạm tội thành khẩn khai báo hoặc ăn năn hối cải;
- Người phạm tội tích cực giúp đỡ các cơ quan có trách nhiệm phát hiện hoặc điều tra tội phạm;
- Người phạm tội đã lập công chuộc tội;
- v) Người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác;
- Người phạm tội là cha, mẹ, vợ, chồng, con của liệt sỹ, người có công với cách mạng.
- Khi quyết định hình phạt, Tòa án có thể coi đầu thú hoặc tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi rõ lý do giảm nhẹ trong bản án.
- Các tình tiết giảm nhẹ đã được Bộ luật này quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung thì không được coi là tình tiết giảm nhẹ trong khi quyết định hình phạt.
Bài viết trên đã cung cấp những thông itn chi tiết và cụ thể về tội cố ý gây thương tích khoản 4 Điều 134 quy định trong BLHS. Nếu có những thắc mắc liên quan đến tội cố ý gây thương tích khoản 4 Điều 134 BLHS hãy liên hệ Công ty Luật ACC để được tư vấn và hỗ trợ.
Nội dung bài viết:
Bình luận