quyền giữ im lặng và án lệ miranda, Anh có quyền giữ im lặng và từ chối trả lời câu hỏi. Bất cứ điều gì anh nói cũng sẽ được dùng để chống lại anh trước tòa”
Trong các bộ phim hình sự, trước khi còng tay kẻ tình nghi, cảnh sát đều nói: “Anh có quyền giữ im lặng và từ chối trả lời câu hỏi. Bất cứ điều gì anh nói cũng sẽ được dùng để chống lại anh trước tòa”. Liệu quyền giữ im lặng có phải là một quyền trong thực tế không> Quyền im lặng xuất phát từ đầu và được pháp luật Việt Nam quy định thế nào? Luật ACC xin làm rõ thông qua bài viết này
1.Quyền im lặng là gì?
Quyền im lặng được ghi nhận đầu tiên trong pháp luật Hoa Kỳ trên cơ sở phán quyết của Tòa án tối cao năm 1966 (Án lệ Miranda).
Án lệ này xuất phát từ vụ án của Ernesto Miranda tại bang Arizona (Mỹ). Năm 1963 Ernesto Miranda bị bắt giữ vì tội bắt cóc và cưỡng dâm. Ông nhận lỗi nhưng không bao giờ được báo về quyền im lặng do hiến pháp, cũng như quyền có Luật sư có mặt trong phòng khi cảnh sát thẩm vấn. Đồng thời, Miranda phải ngồi viết lại bản thú tội của mình ra giấy, trên tờ giấy có in sẵn dòng chữ: “…Lời khai của tôi hoàn toàn dựa trên sự tự nguyện và tự do ý chí, tôi không hề bị đe dọa, ép buộc hoặc được hứa hẹn vô tội, tôi nhận thức đầy đủ về quyền lợi hợp pháp của mình và hiểu rằng bất cứ phát ngôn nào của tôi đều có thể và sẽ được dùng để chống lại tôi”. Bản khai này là chứng cứ duy nhất để Tòa án buộc tội. Sau đó, Miranda bị kết án 30 năm tù.
Đến năm 1966, khi xem xét lại vụ án này, Tòa án tối cao nhận định rằng Miranda cảm thấy bị đe dọa trong cuộc thẩm vấn và ông không hiểu cso quyền không tự buộc tội và quyền có Luật sư. Vì vậy, lời nhận tội của ông không có giá trị chứng minh. Từ nhận định đó, Tòa án tối cao Hoa Kỳ đã không buộc tội ông.
Chính vì vậy, theo án lệ Miranda, Tòa án tối cao Hoa Kỳ đã quyết định để bảo vệ quyền được Hiến pháp quy định là một cá nhân chống lại việc bị ép nhận tội, Tòa án đã quyết định Công tố có quyền và nghĩa vụ theo Hiến pháp phải cảnh bảo cho bị can về quyền im lặng và quyền có luật sư. Bất cứ lời nhận tội nào mà cá nhận đó đưa ra sau một vi phạm quyền im lặng theo án lệ Miranda của các quan chức thực thi pháp luật sẽ dẫn đến việc các lời nhận tội đó bị hủy bỏ hay nói cách khác, lời nhận tội đó bị cấm sử dụng làm bằng chứng trong phiên xét xử vụ án.
Như vậy, quyết định của Tòa án tối cao Hoa Kỳ trở thành Luật về quyền im lặng như một sự giải thích Hiến pháp trong tố tụng hình sự hiện nay, không chỉ pháp luật Hoa Kỳ mà còn ảnh hưởng đến tư tưởng pháp lý trên thế giới.
2.Vấn đề quyền im lặng trong pháp luật Việt Nam
Nội dung quyền im lặng gắn liền với quyền tự do và an toàn cá nhân của người bị buộc tội được xác định trong Hiến pháp và pháp luật hình sự Việt Nam.
2.1. Quyền im lặng theo Hiến pháp
Quyền im lặng xuất phát từ nguyên tắc suy đoán vô tội theo Khoản 1 Điều 31 Hiến pháp 2013: “1. Người bị buộc tội bị coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Toàn án đã có hiệu lực pháp luật”. Theo tinh thần này, công dân được quyền suy đoán vô tội một cách đương nhiên và chừng nào chưa có chứng cứ buộc tội rõ ràng và chưa có phán quyết của Tòa án đã có hiệu lực, công dân không có trách nhiệm chứng minh vô tội.
2.2. Quyền im lặng theo pháp luật hình sự
Quyền im lặng được thể hiện trong
- Điều 16 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015: “Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Khi không đủ và không thể làm sáng tỏ căn cứ để buộc tội, kết tội theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kết luận người bị buộc tội không có tội.”
- Điều 15 Bộ luật Tố tụng Hình sự nhấn mạnh rằng: “Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Người bị buộc tội có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội.”
Bên cạnh đó, quyền im lặng được thể hiện thông qua các quy định bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo, đương sự.
3.Thực hiện quyền im lặng trong thực tiễn
Để thực hiện quyền im lặng trong thực tế, pháp luật cần đảm bảo:
3.1. Khẩn trương cụ thể hóa triệt để tinh thần Hiến pháp 2013 và Bộ luật Tố tụng hình sự về các quy định: người bị buộc tội có quyền im lặng không khai báo; người phạm tội có quyền có Luật sư khi khai báo, cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm, nhiệm vụ giải thích cho người bị tạm giam, tạm giữ,…
3.2. Không đánh đồng việc bị can, bị cáo giữ quyền im lặng với việc họ không thành thực khai báo
3.3. Thực hiện giám sát chặt chẽ quá trình hỏi cung.
Từ án lệ Miranda đến vấn đề quyền im lặng trong pháp luật Việt Nam là vấn đề có ý nghĩa lớn thể hiện Việt Nam tiến hành cụ thể, thực thi Hiến pháp 2013 đồng thời thực hiện nghiêm túc các cam kết quốc tế mà Việt Nam là thành viên tích cực, có trách nhiệm được cộng đồng quốc tế đánh giá cao. Nếu còn bất cứ thắc mắc nào liên quan đến vấn đề quyền im lặng và án lệ Miranda, bạn đọc có thể liên hệ với Luật ACC để nhận giải đáp chi tiết.
Hotline: 19003330
Zalo: 084 696 7979
Gmail: [email protected]
Website: accgroup.vn
Nội dung bài viết:
Bình luận