So sánh thủ tục giám đốc thẩm và tái thẩm [Chi tiết]

Tái thẩm và giám đốc thẩm là 2 thủ tục đặc biệt trong tố tụng; chứ không phải là cấp xét xử. Những thủ tục này chỉ được áp dụng trong các trường hợp đặc biệt; nhằm đánh giá lại các phán quyết đã có hiệu lực pháp luật. Giám đốc thẩm và tái thẩm là một trong những thủ tục đặc biệt; có nhiều điểm tương đồng lẫn khác biệt nhất định. Để nắm rõ hơn về thủ tục giám đốc thẩm và tái thẩm trong tố dân sự; So sánh thủ tục Giám đốc thẩm và thủ tục Tái thẩm trong Tố tụng dân sự”;

So Sánh Thủ Tục Giám đốc Thẩm Và Tái Thẩm [chi Tiết 2023]
So sánh thủ tục giám đốc thẩm và tái thẩm [Chi tiết 2023]

1. Thủ tục Giám đốc thẩm

Điều 325 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 quy định về Tính chất của giám đốc thẩm:

Giám đốc thẩm là xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật; nhưng bị kháng nghị giám đốc thẩm khi có căn cứ quy định tại Điều 326 của Bộ luật này.

– Giám đốc thẩm không phải là việc xét xử một vụ án theo thủ tục thông thường; (mà luật quy định gồm hai cấp: sơ thẩm và phúc thẩm); mà là một thủ tục nhằm xem xét lại việc xét xử trước đây. Thông qua một “phiên tòa giám đốc thẩm”; Hội đồng xét xử giám đốc thẩm sẽ đưa ra kết luận của mình; trong một văn bản tố tụng gọi là “Quyết định giám đốc thẩm”; đối với bản án bị kháng nghị giám đốc thẩm. 

– Một bản án hay quyết định đã có hiệu lực pháp luật; chỉ có thể được xét theo thủ tục giám đốc thẩm khi có “Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm”; của người có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm mà thôi. 

2. Thủ tục Tái thẩm

Điều 351 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định; “Tái thẩm là xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật; nhưng bị kháng nghị vì có tình tiết mới được phát hiện; có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án, quyết định mà Tòa án; các đương sự không biết được khi Tòa án ra bản án, quyết định đó”.

  • Đối tượng của thủ tục tái thẩm là bản án, quyết định của Tòa án; đã có hiệu lực pháp luật. Về cơ bản những bản án hay quyết định của Tòa án; khi đã có hiệu lực pháp luật thì các chủ thể liên quan; phải chấp hành bản án, quyết định đó. Nhưng một số trường hợp mặc dù bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật; nhưng ảnh hưởng đến quyền lợi ích hợp pháp của đương sự. Vậy nên pháp luật đặt ra thủ tục tái thẩm; để xem xét lại những bản án, quyết định đó; nhằm bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của đương sự.
  • Chủ thể có quyền và lợi ích liên quan đến bản án, quyết định; đã có hiệu lực pháp luật không thể trực tiếp kháng cáo. Pháp luật quy định chủ thể có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm; chỉ có Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.
  • Phiên tòa tái thẩm không bắt buộc có đương sự. Nếu cần thiết Hội đồng tái thẩm sẽ triệu tập đương sự.

3. So sánh thủ tục Giám đốc thẩm và thủ tục Tái thẩm trong Tố tụng dân sự

Giám đốc thẩm và tái thẩm là một trong những thủ tục tố tụng đặc biệt; chúng có nhiều điểm tương đồng lẫn khác biệt nhất định.

1. Điểm giống nhau

  • Đối tượng là những bản án quyết định của tòa án đã có hiệu lực pháp luật; trên thực tế buộc các chủ thể có liên quan phải tuân thủ chấp hành. Và khi phát hiện có sai sót thì bị kháng nghị bởi cơ quan có thẩm quyền.
  • Chủ thể có quyền kháng nghị: Chỉ có Chánh án Tòa án nhân dân tối cao; Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao; mới có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm.
  • Hiệu lực: Quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm; sẽ có hiệu lực ngay khi Hội Đồng giám đốc thẩm, tái thẩm ra quyết định
  • Người có quyền kháng nghị:

+, Chánh án TAND Tối cao, Viện trưởng VKSND Tối cao

+, Chánh án TAND cấp cao, Viện trưởng VKSND cấp cao.

  • Phạm vi xem xét:

Hội đồng xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm chỉ xem xét lại phần quyết định; của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật; bị kháng nghị hoặc có liên quan đến việc xem xét nội dung kháng nghị. Hội đồng xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm; có quyền xem xét phần quyết định của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật; không bị kháng nghị hoặc không liên quan đến việc xem xét nội dung kháng nghị; nếu phần quyết định đó xâm phạm đến lợi ích công cộng; lợi ích của Nhà nước, lợi ích của người thứ ba không phải là đương sự trong vụ án.

  • Thời hạn mở phiên tòa: Trong thời hạn 04 tháng; kể từ ngày nhận được quyết định kháng nghị kèm theo hồ sơ vụ án.

2. Điểm khác nhau

Về tính chất

  • Thủ tục giám đốc thẩm: bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng phát hiện có vi phạm nghiêm trọng trong thủ tục tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, sự sai sót này có thể xảy ra ở bất cứ giai đoạn tố tụng nào
  • Thủ tục tái thẩm: là thủ tục xét lại bản án đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị khi phát hiện những tình tiết mới, những tình tiết mới này làm thay đổi nội dung cơ bản của bản án, quyết định của Tòa án.

Về căn cứ kháng nghị

  • Giám đốc thẩm:  Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục tái thẩm khi có một trong những căn cứ sau đây. (Căn cứ theo Điều 326 BLTT DS 2015)

– Kết luận trong bản án, quyết định không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự;

– Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng làm cho đương sự không thực hiện được quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình, dẫn đến quyền, lợi ích hợp pháp của họ không được bảo vệ theo đúng quy định của pháp luật;

– Có sai lầm trong việc áp dụng pháp luật dẫn đến việc ra bản án, quyết định không đúng, gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, xâm phạm đến lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba.

Về lý luận, sự khác biệt về tính chất của của các căn cứ kháng nghị là cơ sở chủ yếu cho việc thiết lập hai thủ tục xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật tương ứng là thủ tục giám đốc thẩm và thủ tục tái thẩm. Thông thường, những sai lầm, vi phạm pháp luật của Tòa án có nguồn gốc từ chính sự nhận thức, đánh giá không đúng về sự việc hoặc pháp luật do sự ngộ nhận hoặc thiếu cẩn trọng của thẩm phán, Hội thẩm nhân dân đối với chứng cứ, tài liệu của vụ việc hoặc đối với các quy định của pháp luật về nội dung, về tố tụng dân sự. Ngoài ra, sai lầm về sự việc của Tòa án có thể do yếu tố ngoại cảnh tác động (đương sự hoặc Tòa án không thể biết được) như thiếu những tình tiết, sự kiện cần thiết hoặc các tình tiết, sự kiện mà Tòa án dựa vào đó để giải quyết vụ việc đã bị giả mạo, được kết luận không đúng (Giáo trình Luật Tố tụng dân sự Việt Nam).

  •  Tái thẩm: Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục tái thẩm khi có một trong những căn cứ sau đây (Theo Điều 352 BLTT Dân sự 2015)
  1. Mới phát hiện được tình tiết quan trọng của vụ án mà đương sự đã không thể biết được trong quá trình giải quyết vụ án;
  2. Có cơ sở chứng minh kết luận của người giám định, lời dịch của người phiên dịch không đúng sự thật hoặc có giả mạo chứng cứ;
  3. Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Kiểm sát viên cố ý làm sai lệch hồ sơ vụ án hoặc cố ý kết luận trái pháp luật;
  4. Bản án, quyết định hình sự, hành chính, dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động của Tòa án hoặc quyết định của cơ quan nhà nước mà Tòa án căn cứ vào đó để giải quyết vụ án đã bị hủy bỏ.

Xét căn cứ thứ ba của kháng nghị tái thẩm có thể nhận thấy rằng trường hợp “Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Kiểm sát viên cố ý làm sai lệch hồ sơ vụ án hoặc cố ý kết luận trái pháp luật”  không được ghi nhận vào một trong các căn cứ để kháng nghị giám đốc thẩm mà vẫn coi đây là căn cứ để kháng nghị tái thẩm. Bởi quy định này nhằm đảo bảo hơn quyền tiếp cận công lý của công dân trong tố tụng dân sự. Trường hợp sai lầm về sự việc của Tòa án do yếu tố ngoại cảnh tác động và trường hợp Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân cố ý làm sai lệch hồ sơ hoặc cố ý kết luận không đúng mà đương sự đã không thể biết được thì quyền khiếu nại của các đương sự đã không thể biết được về các tình tiết mới, tình tiết bị giả mạo hoặc được kết luận không đúng cần phải xác định từ khi họ biết được về các tình tiết, sự kiện đó thay vì kể từ khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực.

Về thời hạn kháng nghị

  • Giám đốc thẩm:

“1. Người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm có quyền kháng nghị trong thời hạn 03 năm, kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.

  1. Trường hợp đã hết thời hạn kháng nghị theo quy định tại khoản 1 Điều này nhưng có các điều kiện sau đây thì thời hạn kháng nghị được kéo dài thêm 02 năm, kể từ ngày hết thời hạn kháng nghị:

a) Đương sự đã có đơn đề nghị theo quy định tại khoản 1 Điều 328 của Bộ luật này và sau khi hết thời hạn kháng nghị quy định tại khoản 1 Điều này đương sự vẫn tiếp tục có đơn đề nghị;
b) Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật có vi phạm pháp luật theo quy định tại khoản 1 Điều 326 của Bộ luật này, xâm phạm nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, của người thứ ba, xâm phạm lợi ích của cộng đồng, lợi ích của Nhà nước và phải kháng nghị để khắc phục sai lầm trong bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật đó.”

  • Tái thẩm: 01 năm kể từ ngày người có thẩm quyền kháng nghị biết được căn cứ cứ kháng nghị theo thủ tục tái thẩm” (Điều 355 BLTTDS 2015)

 

Nội dung bài viết:

    Hãy để lại thông tin để được tư vấn

    comment-blank-solid Bình luận

    084.696.7979 19003330 Báo giá Chat Zalo