Tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai khác nhau như thế nào? Hãy cùng Luật ACC tìm hiểu chi tiết thông qua bài viết sau nhé!

1. Tài sản hiện có là gì?
Tài sản hiện có là tài sản đã hình thành và chủ thể đã xác lập quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản trước hoặc tại thời điểm xác lập giao dịch theo khoản 1 Điều 108 Bộ luật dân sự năm 2015.
2. Tài sản hình thành trong tương lai là gì?
Tài sản hình thành trong tương lai gồm:
+ Tài sản được hình thành từ vốn vay;
Tài sản được hình thành từ vốn vay là những tài sản nhờ vay vốn để mua bán mà có được. Một số tài sản được coi là tài sản hình thành từ vốn vay ví dụ như: việc mua xe máy, xe ô tô trả góp, việc mua nhà ở có hỗ trợ hay nhà từ việc vay vốn…
+ Tài sản đang trong giai đoạn hình thành hoặc đang được tạo lập hợp pháp tại thời điểm giao kết giao dịch bảo đảm;
Tài sản đang trong giai đoạn hình thành hoặc đang được tạo lập hợp pháp tại thời điểm giao kết giao dịch bảo đảm được hiểu là những tài sản đang trong quá trình hình thành. Thông thường đối với những tài sản này là những tài sản đang trong quá trình lắp đặt, xây lắp ví dụ như chung cư đang xây dựng, xe máy ô tô đang lắp đặt…
+ Tài sản đã hình thành và thuộc đối tượng phải đăng ký quyền sở hữu, nhưng sau thời điểm giao kết giao dịch bảo đảm thì tài sản đó mới được đăng ký theo quy định của pháp luật.
Tài sản đã hình thành và thuộc đối tượng phải đăng ký quyền sở hữu, nhưng sau thời điểm giao kết giao dịch bảo đảm thì tài sản đó mới được đăng ký theo quy định của pháp luật là những tài sản phải được hoàn thiện, lắp đặt hay xây dựng xong được đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng theo đúng quy định của pháp luật.
Tài sản hình thành trong tương lai không bao gồm quyền sử dụng đất.
Quyền sử dụng đất không được coi là tài sản hình thành trong tương lai, bởi lẽ quyền sở dụng đất chỉ được hình thành khi phần đất đó được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Khi đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tài sản đó mới được chuyển giao từ chủ thể này sang chủ thể khác. Do vậy quyền sử dụng đất không được coi là tài sản hình thành trong tương lai trong trường hợp này
3. Phân biệt tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai
Theo quy định tại khoản 1 Điều 108 BLDS năm 2015 thì tài sản hiện có là tài sản đã hình thành và chủ thể đã xác lập quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản trước hoặc tại thời điểm xác lập giao dịch.
Như vậy, việc xác định tài sản hiện có dựa trên cơ sở là tài sản đã hình thành, còn tài sản đó hình thành như thế nào không ảnh hưởng đến việc xác định tài sản đã hình thành. Nhưng tại về hai khoản 1 quy định như một mệnh đề chú giải là chủ thể đã xác lập quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản trước hoặc tại thời điểm xác lập giao dịch”.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 108 Bộ luật dân sự 2015 thì việc áp dụng vào việc giải quyết các tranh chấp liên quan đến tài sản đã hình thành phải được hiểu như sau:
Thứ nhất: Tài sản hiện có (đang tồn tại hiện hữu) là tài sản đã hình thành và phải thỏa mãn điều kiện chủ thể đã xác lập quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản vào thời điểm xác lập quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản xác lập trước hoặc tại thời điểm xác lập giao dịch.
Thứ hai: Chủ thể đã xác lập quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản trước hoặc tại thời điểm xác lập giao dịch.
Như vậy, theo quy định này thì chủ sở hữu của tài sản hiện có và chủ thể có quyền khác đối với tài sản (không phải là chủ sở hữu của tài sản hiện có) đã được xác định trước hoặc tại thời điểm xác lập giao dịch.
Với quy định tại khoản 2 Điều 105, tài sản bao gồm bất động sản và động sản. Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lại. Khoản 2 Điều 108 quy định về tài sản hình thành trong tương lai gồm: Tài sản chưa hình thành và tài sản đã hình thành những chủ thể xác lập quyền sở hữu tài sản sau thời điểm xác lập giao dịch.
Tài sản sản được quy định tại Điều 105 tuy chưa thật đầy đủ nhưng đã thể hiện được nguyên tắc nhất thể hóa của điều luật và dễ hiểu, dễ áp dụng.
Quy định tại Điều 108 về tài sản hình thành trong tương lai bao gồm:
– Tài sản chưa hình thành;
– Tài sản đã hình thành nhưng chủ thể xác lập quyền sở hữu tài sản sau thời điểm xác lập giao dịch.
Như vậy, về tài sản hình thành trong tương lai căn cứ vào tính khách quan của tài sản, cụ thể là tài sản chưa hình thành, chưa có. Chưa tồn tại dưới bất kỳ hình thức nào theo quy định về tài sản tại Điều 105 BLDS. Tài sản hình thành trong tương lai còn được hiểu dưới góc độ pháp lý là tài sản đã hình thành, nhưng chủ thể xác lập quyền sở hữu tài sản sau thời điểm xác lập giao dịch.
Quy định về tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai tại Điều 108 | BLDS là căn cứ để xác định sở hữu chủ của tài sản, đồng thời còn là căn cứ xác định
các quyền và nghĩa vụ của chủ thể trong các quan hệ tài sản trong xã hội.
Tuy nhiên, có điểm hạn chế nội dung của quy định tại khoản 2 Điều 108 là: “Tài sản đã hình thành nhưng lại phụ thuộc vào thực trạng: “Những chủ thể xác lập quyền sở hữu tài sản sau thời điểm xác lập giao dịch”? Nếu chủ thể không xác lập quyền sở hữu tài sản sau thời điểm xác lập giao dịch thì “Tài sản đã hình thành vẫn được coi là tài sản hình thành trong tương lai? Quy định này cần sớm được hướng dẫn theo một nghị định.
Mặt khác, quy định này cũng chưa thống nhất với cách tiếp cận của Luật nhà ở năm 2014 và Luật kinh doanh bất động sản năm 2014 về nhà ở, công trình xây dựng hình thành trong tương lai và nhà ở, công trình xây dựng có sẵn.
Theo quy định của Điều 108 BLDS năm 2015 thì tài sản hình thành trong tương lai bao gồm cả “ Tài sản đã hình thành những chủ thể xác lập quyền sở hữu tài sản sau thời điểm giao dịch”.
Tuy nhiên, theo quy định của Luật nhà ở năm 2014 và Luật kinh doanh bất động sản năm 2014 thì trường hợp nhà ở, công trình xây dựng đã hoàn thành việc xây dựng và đưa vào sử dụng nhưng chủ thể chưa xác lập quyền sở hữu thì không được xem là nhà ở, công trình xây dựng hình thành trong tương lai mà được xem là nhà ở, công trình xây dựng có sẵn.
Nội dung bài viết:
Bình luận