Quy định về hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất như thế nào? Hãy cùng Luật ACC tìm hiểu chi tiết thông qua bài viết sau nhé!

1. Khái niệm quyền sử dụng đất
Quyền sử dụng đất đai là quyền khai thác các thuộc tính của đất đai để phục vụ cho các mục tiêu của cá nhân, tổ chức hoặc Nhà nước chủ quyền.
Luật Đất đai năm 2013 nêu rõ, đất đai là tài sản thuộc quyền sở hữu của Nhà nước. Nhà nước quản lý đất đai thông qua các quyết định trao quyền sử dụng dưới nhiều hình thức cho các đối tượng nhận quyền sử dụng đất.
Bên cạnh đó, người sử dụng đất được phép thực hiện các quyền và nghĩa vụ liên quan đến đất đai theo quy định của pháp luật.
Tuy Luật Đất đai quy định quyền sở hữu thuộc về Nhà nước, nhưng thực chất quyền sử dụng đất cũng bao gồm quyền sở hữu đất đai một cách hợp pháp. Nhà nước không chỉ trao quyền sử dụng mà còn trao quyền định đoạt cho người sử dụng thông qua các hình thức giao dịch đa dạng như: chuyển nhượng, thừa kế, góp vồn, tặng cho, thừa kế, hoặc từ bỏ quyền sử dụng (trả lại cho Nhà nước).
2. Chủ thể là bên tặng cho quyền sử dụng đất
+ Chủ thể của tặng cho quyền sử dụng đất là bên tặng cho quyền sử dụng đất gồm có hộ gia đình, cá nhân, tổ chức kinh tế, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài sau:
- Đổi với hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất không phải là đất thuê có các quyền và nghĩa vụ chung cho người sử dụng đất quy định tại Điều 166 và Điều 170 Luật đất đai hiện hành, còn có quyển tặng cho quyền sử dụng đất theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Luật đất đai hiện hành; tặng cho quyền sử dụng đất đối với hộ gia đình, cá nhân hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc đối tượng theo quy định tại khoản 2 Điều 186 Luật đất đai hiện hành (điểm e khoản 1 Điều 179 Luật đất đai hiện hành). Như vậy, hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất không phải là đất thuê được quyền tặng cho quyền sử dụng đất cho Nhà nước, cộng đồng dân cư để xây dựng các công trình phúc lợi, phục vụ lợi ích chung cho cả cộng đồng; có quyền tặng cho quyền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân khác để tạo điều kiện cho nhau phát triển kinh tế.
Ngoài ra, hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước cho thuê đất có các quyền và nghĩa vụ chung quy định tại Điều 166 và Điểu 170 Luật đất đai hiện hành, cũng có quyền tặng cho tài sản thuộc sở hữu của mình gắn hển vối quyền sử dụng đất, người được tặng cho tài sản đó được Nhà nước tiếp tục cho thuê đất theo mục đích đã được xác định (điểm a khoản 2 Điều 179 Luật đất đai hiện hành).
- Đối với tổ chức được tặng cho quyền sử dụng đất phải là tổ chức kinh tế được Nhà nước giao đất, có thu tiền sử dụng đất mà tiển sử dụng đất đã trả không có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước, có các quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 166 và Điều 170 Luật đất đai hiện hành; có quyền tặng cho quyền sử dụng đất cho Nhà nước, tặng cho cộng đồng dân cư để xây dựng các công trình phục vụ lợi ích chung của cộng đồng, tặng cho nhà tình nghĩa gắn liền vối đất theo quy định của pháp luật (điểm c khoản 2 Điều 174 Luật đất đai hiện hành). Đồng thời, Luật đất đai hiện hành và quy định một số các tổ chức kinh tế sau cũng được tặng cho quyền sử dụng đất theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Luật đất đai hiện hành như nêu trên:
3. Chủ thể là bên nhận tặng cho quyền sử dụng đất
Như vậy, chủ thể của tặng cho quyền sử dụng đất là người tặng cho quyền sử dụng đất và người được nhận tặng cho quyền sử dụng đất. Đối vối chủ thể là người tặng cho quyền sử dụng đất phải là người được Nhà nước giao đất sử dụng ổn định, lâu dài, có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, đất không có tranh chấp, quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án, trong thời hạn sử dụng đất, mói có quyền tặng cho quyền sử dụng đất. Do đó, những người thuê đất, người thuê lại quyền sử dụng đất không có quyền tặng cho quyền sử dụng đất. Người tặng cho quyền sử dụng đất có thể là hộ gia đình, cá nhân, tổ chức kinh tế, người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Đối với người được nhận tặng cho quyền sử dụng đất, pháp luật chỉ có quy định điểu kiện chung của người sử dụng đất, mà chưa có quy định riêng về điểu kiện của người được nhận tặng cho quyền sử dụng đất. Người được nhận tặng cho quyền sử dụng đất có thể là Nhà nước, hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư, tổ chức, người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Riêng đôi vối tổ chức được nhận tặng cho quyền sử dụng đất, pháp luật không quy định rõ tổ chức kinh tế hay tổ chức chính trị xã hội. Do đó, chủ thể là người nhận tặng cho quyển sử dụng đất được pháp luật quy định rộng hơn so với chủ thể là người tặng cho quyển sử dụng đất.
Nội dung bài viết:
Bình luận