Nguyên tắc áp dụng pháp luật khi có xung đột pháp luật

Xung đột pháp luật là hiện tượng có hai hay nhiều hệ thống pháp luật cùng điều chỉnh một quan hệ tư pháp quốc tế cụ thể, do có sự khác nhau giữa pháp luật của các quốc gia hoặc do tính chất đặc thù của chính đối tượng điều chỉnh của tư pháp quốc tế.Sau đây là Nguyên tắc áp dụng pháp luật khi có xung đột pháp luật

Nguyên nhân của hiện tượng xung đột pháp luật

Xung đột pháp luật là một hiện tượng đặc thù của tư pháp quốc tế. Nó phát sinh do hai nhóm nguyên nhân.

Do pháp luật của các nước có sự khác nhau: Pháp luật do nhà nước xây dựng nên, phù hợp với các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội... của nước mình. Vì vậy có rất nhiều yếu tố làm cho pháp luật của các nước trên thế giới không giống nhau. Đó có thể là:

- Do nguyên nhân chính trị, kinh tế, xã hội

Các quốc gia đều tồn tại dựa trên một nền tảng kinh tế nhất định với một chế độ sở hữu tương ứng. Mà chế độ sở hữu là một bộ phận của cơ sở hạ tầng, có mối quan hệ biện chứng với kiến trúc thượng tầng trong đó pháp luật là một cấu thành quan trọng. Vì vậy, dựa trên một chế độ sở hữu nhất định thì pháp luật cũng được hình thành để phản ánh một cách phù hợp và tương xứng. Trên thế giới có những quốc gia được tạo dựng trên cơ sở chế độ công hữu về tư liệu sản xuất nhưng ngược lại cũng có những quốc gia được tạo dựng dựa trên chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu. Từ các chế độ sở hữu đó mà pháp luật được xây dựng ở các quốc gia này cũng có sự khác biệt căn bản. Các quan hệ trong lĩnh vực luật công, điển hình là các quan hệ hình sự, hành chính có yếu tố nước ngoài.

Làm một bài toán phản chứng, giả sử các quan hệ này nảy sinh và cho rằng có xung đột pháp luật, tức là có hiện tượng hai hay nhiều hệ thống pháp luật của các nước khác nhau cùng có thể được áp dụng để điều chỉnh một quan hệ hình sự, hành chính có yếu tố nước ngoài. Điều đó cũng có nghĩa là sẽ phải có sự chọn lựa trong số các hệ thống pháp luật có thể được áp dụng đó, lấy một hệ thống pháp luật để điều chỉnh quan hệ đang xem xét. Kết quả của sự lựa chọn này tất yếu không phải mọi trường hợp sẽ là luật quốc gia của Việt Nam, mà sẽ có trường hợp là luật hình sự, hành chính của nước ngoài. Khi đó luật hình sự, hành chính của nước ngoài sẽ được áp dụng để bảo vệ các quan hệ đó, các quan hệ đặc biệt được xác định là sự ổn định của an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, mà khi đặt ra pháp luật để bảo vệ các quan hệ này, các quốc gia, không chỉ Việt Nam, luôn xác định là để bảo vệ những giá trị cốt lõi, nền tảng của chính mình. Nói một cách khác, nếu thừa nhận có xung đột pháp luật trong lĩnh vực luật công thì đồng nghĩa với việc chấp nhận có thể áp dụng pháp luật nước ngoài, và điều đó là một điều hết sức vô lý và không thực tiễn không chỉ với Việt Nam mà với tất cả các nước. Vì vậy, như trên đã trình bày, các quốc gia đều từ chối áp dụng pháp luật nước ngoài hay không đặt ra việc chọn luật để rồi có thể có nguy cơ áp dụng pháp luật nước ngoài trong lĩnh vực này nên giả sử trên cho rằng các quan hệ hình sự, hành chính có yếu tố nước ngoài phát sinh cũng phát sinh xung đột pháp luật là không có cơ sở. Các quan hệ này được bảo vệ một cách nghiêm ngặt và tuyệt đối trong phạm vi lãnh thổ quốc gia, một khi các quan hệ đó bị xâm phạm tức là các giá trị căn bản của cuộc sống, xẫ hội bị tác động tới, các lợi ích công bị xâm phạm thì bất kể người vi phạm là người nước nào, đang cư trú ở đâu đều sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật quốc gia nơi quan hệ (được quy định trong luật công) bị xâm phạm.

 

Phạm vi có xung đột pháp luật

Một câu hỏi là xung đột pháp luật xuất hiện trong phạm vi nào, trong tất cả các quan hệ tư pháp quốc tế hay có ngoại lệ nào không?

Như trên đã trình bày, các quan hệ tư pháp quốc tế phát sinh mà hầu hết trong số đó sẽ làm phát sinh hiện tượng đặc thù của ngành luật là hiện tượng xung đột pháp luật. Tuy nhiên, do đặc thù của một số quan hệ như các quan hệ về sở hữu trí tuệ với đặc điểm nổi bật là tính vô hình của tài sản, nên tài sản trí tuệ phát sinh trên cơ sở pháp luật nước nào, yêu cầu bảo hộ ở đâu thì chỉ được bảo hộ và chỉ bảo hộ được trong phạm vi lãnh thổ nước đó mà thôi. Vì vậy, đối với các quan hệ này không có xung đột pháp luật (có nguyên nhân khách quan nhưng không có nguyên nhân chủ quan), không thể áp dụng luật nước ngoài để bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ cho một đối tượng nào đó ở Việt Nam được. Song, đối với các quan hệ hợp đồng có đối tượng liên quan đến SHTT như hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng hoặc chuyển giao quyền sở hữu các đối tượng SHTT; hoặc các quan hệ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do hành vi xâm phạm quyền SHTT gây ra được xem là các quan hệ hợp đồng, bồi thường thiệt hại hay quan hệ dân sự bình thường và đều có xung đột pháp luật.

Từ đó có thể kết luận là xung đột pháp luật sẽ nảy sinh trong hầu hết các quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài, trừ một số trường hợp đặc biệt như phân tích ở trên.

 

Phương pháp giải quyết xung đột pháp luật

Phương pháp là cách thức tiến hành để có hiệu quả cao. Phương pháp giải quyết xung đột pháp luật là cách thức giải quyết vấn đề khi có tình huống hai hay nhiều hệ thống pháp luật của các nước khác CÓ Sự liên quan đến hai hay nhiều hệ thống pháp luật khác nhau. Mà bản thân nội tại các hệ thống pháp luật luôn tồn tại sẵn các yếu tố tạo nên sự khác biệt như đã trình bày phía trên. Vì vậy, để giải quyết các quan hệ phức tạp này bằng một loại quy phạm quy định rõ quyền và nghĩa vụ cụ thể của các bên tham gia quan hệ, vẫn đảm bảo sự chấp nhận được của hai/nhiều hệ thống pháp luật khác nhau thì gần như tất yếu các quy phạm thực chất này phải là kết quả của quá trình đàm phán, thưong lượng giữa các quốc gia, và đó chính là các điều ước quốc tế. Nói cách khác, các quy phạm thực chất thống nhất là các quy phạm tồn tại trong các điều ước quốc tế.

Ví dụ: Các quy định trong Công ước Paris 1883 về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp (Điều 4: Tác giả sáng chế có quyền được nêu tên với danh nghĩa là tác giả sáng chế trong patent)', Công ước Beme 1886 về bảo hộ quyền tác giả (khoản 1 Điều 7: Thời hạn bảo hộ theo Công ước này sẽ là suốt cuộc đời của tác giả và năm mươi năm sau khi tác giả chết)', Công ước Vienna 1980 của Liên hợp quốc về mua bán hàng hoá quốc tế (Điều 11: Hợp đồng mua bán không cần phải được ký kết hoặc xác nhận bằng văn bản hay phải tuân thủ một yêu cầu nào khác về hình thức của hợp đồng. Hợp đồng cỏ thể được chứng minh bằng mọi cách, kể cả những lời khai của nhân chứng)...

Khi có các quy phạm thực chất thống nhất thi các cơ quan giải quyết cũng như các bên tham gia quan hệ có thể căn cứ vào đó để giải quyết vấn đề một cách trực tiếp, mà không cần phải xem xét đến các phương pháp giải quyết khác. Vì vậy, quy phạm thực chất thống nhất được coi là sự lựa chọn đầu tiên cho việc giải quyết các quan hệ tư pháp quốc tế, chỉ khi không có loại quy phạm này thì các quy phạm khác của tư pháp quốc tế mới được xem xét đến.

- Quy phạm thực chất thông thường là loại quy phạm thực chất nằm trong hệ thống pháp luật quốc gia.

Quy phạm này có đặc điểm giống với quy phạm thực chất thống quốc tế trực tiếp điều chỉnh quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài trong khi đó các quy phạm của ngành luật trong nước (như các ngành luật dân sự, lao động, thương mại...) không bao giờ trực tiếp điều chỉnh các quan hệ tư pháp quốc tế được, chúng chỉ điều chỉnh các quan hệ quốc nội. Trong trường hợp các quy phạm này được sử dụng để điều chỉnh quan hệ tư pháp quốc tế thì sự điều chỉnh chỉ có thể là gián tiếp mà không phải là điều chỉnh trực tiếp như quy phạm của tư pháp quốc tế, bởi chúng được áp dụng theo sự dẫn chiếu của quy phạm xung đột.

Phương pháp thực chất được đánh giá là phương pháp hiệu quả nhất để giải quyết xung đột pháp luật, nhưng nó không phải là phương pháp duy nhất. Do phương pháp này sử dụng các quy phạm thực chất mà phần lớn là các quy phạm thực chất thống nhất, như đã trình bày ở trên đó là các quy phạm tồn tại trong các điều ước quốc tế, mà không phải lĩnh vực nào cũng có điều ước quốc tế, và đôi khi trong quá trình đàm phán, thương lượng để xây dựng điều ước quốc tế thì để thống nhất được các quy phạm thực chất cũng rất khó khăn, có nhiều trường họp đã không thực hiện được. Vì vậy, bên cạnh phương pháp thực chất, để giải quyết xung đột pháp luật, tư pháp quốc tế còn sử dụng một phương pháp nữa đó là phương pháp xung đột.

Phương pháp xung đột - xây dựng và áp dụng các quy phạm xung đột:

Nói một cách phổ quát, phương pháp xung đột là phương pháp sử dụng các quy phạm xung đột để giải quyết xung đột pháp luật.

Khi không có quy phạm thực chất thống nhất, để điều chỉnh quan hệ, các cơ quan có thẩm quyền phải tìm đến hệ thống các quy phạm khác - các quy phạm xung đột. Đây là các quy phạm pháp luật đặc biệt, nó không quy định quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ, không quy định các hình thức và biện pháp chế tài có thể được áp dụng đối với bên vi phạm. Nhiệm vụ của quy Hơn nữa, sự tồn tại của quy phạm xung đột không phải là minh chứng cho việc có xung đột pháp luật, đấy là công cụ của một trong hai phương pháp điều chỉnh các quan hệ tư pháp quốc tế, bao gồm cả các quan hệ có lẫn các quan hệ không có xung đột pháp luật.

Phương pháp xung đột là phương pháp phổ biến và đặc thù của tư pháp quốc tế được hầu hết các quốc gia áp dụng. So với phương pháp thực chất thì phương pháp xung đột phức tạp hơn nhiều. Để hiểu rõ và vận dụng đúng phương pháp xung đột nhất thiết phải nắm được các vấn đề cơ bản liên quan đến quy phạm xung đột - quy phạm đặc thù của tư pháp quốc tế (phần này sẽ được trình bày tại mục 2 dưới đây).

Áp dụng tập quán quốc tế hoặc “pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội tương tự:

Hai phương pháp thực chất và xung đột nêu trên là hai phương pháp điều chỉnh cơ bản của tư pháp quốc tế. Tuy nhiên thực tiễn vô cùng phong phú và đa dạng, nên cũng có trường hợp không có cả quy phạm thực chất lẫn quy phạm xung đột để điều chỉnh quan hệ. Trường hợp này, để bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của các đương sự, củng cố và thúc đẩy giao lưu giữa các nước thì cơ quan có thẩm quyền của quốc gia cần tìm một giải pháp khác để giải quyết vấn đề. Cách thức thường được áp dụng là sử dụng tập quán quốc tế hoặc “pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội tương tự” trên cơ sở phù hợp với nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc gia mình cũng như đường lối, chính sách đối ngoại của nhà nước.

Tại Việt Nam, việc áp dụng tập quán được quy định trong Bộ luật dân sự 2015. Cụ thể, tại khoản 2 Điều 5 Bộ luật quy định: “Trường hợp các bên không có thoả thuận và pháp luật không quy định thì có thể áp dụng tập quản...”; và tại Điều 666 Bộ luật quy định áp dụng tập quán quốc tế như sau: “Các bên được lựa chọn tập quán quốc tế trong trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 664 của Bộ luật này...”.

trực tiếp quy định quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ mà chỉ nhằm xác định hệ thống luật áp dụng mà thôi.

Có thể định nghĩa, quy phạm xung đột là quy phạm ấn định luật pháp nước nào cần phải áp dụng để điều chỉnh quan hệ pháp luật dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài trong một tình huống cụ thể.

Quy phạm xung đột có thể do các quốc gia tự xây dựng nên trong hệ thống pháp luật của mình và được gọi là quy phạm xung đột thông thường.

Ví dụ, khoản 2 Điều 680 Bộ luật dân sự 2015 quy định:

“Việc thực hiện quyền thừa kế đổi với bất động sản được xác định theo pháp luật của nước nơi có bất động sản đó”.

 

 

Trong quy phạm này, pháp luật được lựa chọn để điều chỉnh quan hệ về việc thực hiện quyền thừa kế đối với bất động sản là pháp luật của nước nơi có bất động sản đó. Quy phạm này không trả lời được câu hỏi chủ thể nào thì được thừa kế bất động sản, nhưng câu hỏi đó chỉ có thể được trả lời khi căn cứ vào luật nơi có bất động sản - hệ thống pháp luật đã được quy phạm xung đột chỉ ra.

Quy phạm xung đột cũng có thể được các quốc gia thoả thuận xây dựng nên trong các điều ước quốc tế và lúc này nó được gọi với tên gọi là quy phạm xung đột thống nhất, trong đó “quy phạm xung đột” là tên của loại quy phạm chỉ xác định luật áp dụng, còn “thống nhất” để chỉ vị trí tồn tại của quy phạm trong các điều ước quốc tế.

Ví dụ, Điều 17 Hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam và Lào quy định:

“Năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự sẽ tuân theo pháp luật của Nước ký kết mà cá nhân đã là công dân”.

Cụ thể, nếu một công dân Lào thực hiện một hành vi dân sự tại Việt Nam và khi có tranh chấp về chính năng lực hành vi đó vì cho rằng người này không có đủ năng lực để thực hiện hành vi đã xảy ra, và các bên có yêu cầu toà án Việt Nam giải quyết thì toà án sẽ căn cứ vào Điều 17 Hiệp định song phương nói trên để xác định luật áp dụng. Ở đây, mặc dù hành vi được thực hiện ở Việt Nam nhưng năng lực hành vi dân sự sẽ phải

CÓ một điểm cần chú ý, khi quy phạm xung đột dẫn chiếu đến pháp luật một nước mà đó lại là nhà nước liên bang, nghĩa là trong lãnh thổ quốc gia đó có nhiều hệ thống pháp luật khác nhau cùng tồn tại. Vậy, quy phạm xung đột lúc này dẫn chiếu là dẫn chiếu đến luật nào, luật của từng bang hay luật của liên bang, vấn đề này đã được quy định tại Điều 669 Bộ luật dân sự 2015, theo đó:

“Trường hợp pháp luật của nước có nhiều hệ thống pháp luật được dẫn chiếu đến thì pháp luật áp dụng được xác định theo nguyên tắc do pháp luật nước đó quy định".

Như vậy, việc luật của bang hay luật của liên bang sẽ được áp dụng điều chỉnh quan hệ tư pháp quốc tế, lúc này do pháp luật của nước đó quy định.

Nội dung bài viết:

    Hãy để lại thông tin để được tư vấn

    comment-blank-solid Bình luận

    084.696.7979 19003330 Báo giá Chat Zalo